Ở xã Quảng Khê, cà phê vối (robusta) là cây chiếm nhiều diện tích và nuôi nhiều hộ nhất, vì nó hợp với ba thứ sẵn có của vùng: đất đỏ bazan tơi và giữ ẩm, khí hậu cao nguyên có mùa khô rõ để cây phân hoá hoa, và lượng mưa đủ nuôi quả suốt nửa năm. Gần như mọi hộ làm nông ở Quảng Khê và phần Đắk Plao cũ đều có ít nhiều cà phê, kể cả những nhà đã chuyển sang sầu riêng hay hồ tiêu.
Khác vùng cà phê bằng phẳng quanh Buôn Ma Thuột, vườn ở đây nằm trên sườn đồi dọc quốc lộ 28 và các đường nhánh vào thôn. Địa hình dốc làm mọi việc từ bón phân, tưới nước đến chở quả đều tốn công hơn, nhưng cũng cho vườn thoát nước tốt và ít úng trong mùa mưa dài.
Bài này giải thích vì sao cà phê bám rễ ở Quảng Khê, một vườn điển hình gồm những gì, giống nào hay được trồng và những thay đổi mà nhà vườn trong xã đang trải qua. Phần mua bán và doanh nghiệp thu mua để ở mục doanh nghiệp của trang.
Vì sao cà phê vối thành cây chủ lực của Quảng Khê
Phần lớn hộ ở Quảng Khê là người đến lập nghiệp từ nhiều nơi trong vài chục năm gần đây, cùng với đồng bào bản địa đã sống lâu đời trong vùng. Khi khai hoang đất đồi, cây được chọn trồng lâu dài là cây vừa bán được tiền mặt, vừa chịu được điều kiện đất dốc xa chợ. Cà phê vối đáp ứng cả hai: hạt khô để được lâu, chở đi xa không hỏng, và lúc nào cũng có người mua. Lúa nước gần như không có chỗ trên đồi, còn cây ăn trái thời đó khó bán vì đường sá xa.
Cây cà phê vối cũng dễ tính hơn cà phê chè (arabica) ở độ cao trung bình. Cà phê chè cần vùng cao và lạnh hơn mới cho hạt ngon và ít bệnh, trong khi cà phê vối mọc khoẻ ở độ cao vài trăm mét tới khoảng nghìn mét, chịu nắng tốt và cho năng suất cao khi được tưới mùa khô. Đó là lý do khi đi trên quốc lộ 28 qua Quảng Khê, bạn gần như chỉ thấy cà phê vối, xen tiêu và cây ăn trái.
Theo thời gian, cà phê thành khung cho cả nhịp sống của xã: mùa hái cuối năm là lúc lao động đông nhất, tiền bán cà phê quyết định chuyện sửa nhà, cho con đi học, mua xe; còn mùa khô là mùa lo nước. Những cây khác như tiêu, sầu riêng, bơ phần nhiều được trồng xen vào chính các vườn cà phê ấy chứ ít khi thay hẳn.
Đất đỏ bazan trên sườn dốc: được gì, khó gì
Đất tơi, sâu và giữ ẩm. Đất đỏ bazan có tầng dày, nhiều sét nhưng kết cấu tơi xốp, rễ cà phê ăn sâu và giữ được ẩm lâu sau mưa. Nhờ vậy cây ít chết khát trong những tuần đầu mùa khô, và vườn chăm đủ hữu cơ thì giữ năng suất bền nhiều năm.
Dốc làm trôi lớp đất mặt. Lớp đất mặt là nơi tập trung mùn và phân bón. Trên sườn đồi, mưa lớn đầu mùa dễ cuốn lớp này xuống chân dốc, nhất là ở vườn trồng hàng thẳng từ trên xuống. Nhà vườn lâu năm thường trồng theo đường đồng mức, giữ băng cỏ giữa hàng và làm bồn quanh gốc để nước thấm chứ không chảy tràn.
Đất chua dần sau nhiều năm bón phân hoá học. Bón nhiều đạm, ít hữu cơ trong thời gian dài làm đất chua, rễ yếu và cây dễ nhiễm bệnh. Bón vôi theo khuyến cáo, trả lại vỏ cà phê ủ hoai và cành lá tỉa là cách nhiều hộ dùng để giữ đất, thay vì chỉ tăng thêm phân bón.
Thoát nước tốt là ưu điểm thật. Vùng đất trũng hay bị úng rễ khi mưa kéo dài, còn vườn trên đồi thì nước rút nhanh. Ở Quảng Khê, chân dốc gần suối mới là chỗ cần để ý úng; còn lưng đồi thì cái lo chính là khô hạn cuối mùa khô.
Độ cao, sương và hai mùa mưa khô
Quảng Khê nằm trên cao nguyên, cao hơn vùng Gia Nghĩa và thấp hơn vùng Di Linh ở phía bên kia. Ở độ cao này, ban ngày mùa khô nắng gắt nhưng đêm và sáng sớm mát, có sương, nhất là những tháng đầu năm. Biên độ ngày đêm lớn giúp quả chín chậm, đều và hạt chắc hơn vùng thấp nóng. Vì cao độ trong xã chênh nhau đáng kể giữa các thôn, quả ở vườn trên đồi cao thường chín muộn hơn vườn ở chỗ thấp vài tuần, nên lịch hái trong cùng một xã cũng không trùng nhau.
Mùa mưa ở đây dài, thường kéo từ khoảng tháng tư, tháng năm tới tháng mười, tháng mười một; mùa khô là phần còn lại của năm. Mùa khô là lúc cây nghỉ và tích mầm hoa, rồi một đợt nước đủ đẫm đánh thức hoa nở. Năm nào mưa trái mùa đến sớm giữa mùa khô thì hoa nở lắt nhắt nhiều đợt, quả chín không đều và mùa hái kéo dài, tốn công.
Sương và gió mùa khô cũng có mặt trái: lá mất nước nhanh, cây non mới trồng dễ chết nếu không có cây che hoặc tủ gốc. Những năm khô hạn kéo dài, nhà vườn ở Quảng Khê lo nước tưới hơn là lo sâu bệnh, và đó cũng là lý do ao chứa, giếng khoan, đường ống lấy nước suối hay nước hồ trở thành một phần không thể thiếu của vườn.
Một vườn cà phê điển hình ở Quảng Khê gồm những gì
Không có hai vườn giống nhau, nhưng phần lớn vườn cà phê trong xã có chung các thành phần dưới đây. Bảng chỉ mô tả vai trò, không phải công thức bắt buộc.
| Thành phần | Vai trò trong vườn | Điều nhà vườn hay lưu ý |
|---|---|---|
| Hàng cà phê vối | Cây chính, cho thu nhập hằng năm | Trồng theo đường đồng mức trên dốc; khoảng cách đủ để đi hái và tỉa |
| Cây che bóng, chắn gió | Giảm nắng gắt, giữ ẩm, chắn gió mùa khô | Muồng, keo dậu, bơ hạt; tỉa tán để không che quá dày |
| Trụ tiêu xen | Thêm nguồn thu trên cùng mảnh đất | Tranh nước và phân với cà phê nếu trồng quá dày |
| Cây ăn trái xen | Sầu riêng, bơ, mít tuỳ vườn | Cây lớn dần sẽ lấn bóng cà phê, phải tính trước |
| Bồn gốc và băng cỏ | Giữ nước, chống trôi đất trên dốc | Làm lại trước mưa đầu mùa |
| Ao chứa hoặc đường ống | Nước tưới mùa khô | Kiểm từ giữa mùa khô, trước đợt tưới hoa |
Vườn trồng thuần cà phê không cây che dễ cho năng suất cao trong vài năm đầu nhưng cây kiệt nhanh, đất mất mùn. Vườn xen quá dày thì ngược lại: đủ thứ cây nhưng thứ nào cũng thiếu nắng và thiếu phân. Cân bằng giữa hai đầu ấy là việc mỗi nhà phải tự tính theo đất và theo sức mình.
Giống cà phê và chuyện cây ghép
Những vườn cà phê trồng đầu tiên trong vùng phần lớn là cây thực sinh, tức trồng từ hạt. Cây thực sinh mọc khoẻ nhưng không đồng đều: có cây sai quả, có cây ít, có cây quả nhỏ, có cây hay bị gỉ sắt. Sau nhiều năm, nhà vườn nhận ra một phần đáng kể diện tích chỉ cho năng suất thấp mà vẫn tốn công chăm như cây tốt.
Từ đó, việc dùng cây giống ghép từ các dòng vô tính chọn lọc trở nên phổ biến. Các dòng này do cơ quan nghiên cứu nông nghiệp ở Tây Nguyên chọn tạo, người trồng quen gọi bằng chữ TR kèm số. Ưu điểm là cây đồng đều, quả to, chín tập trung hơn và chống chịu bệnh tốt hơn. Nhà vườn thường trồng xen vài dòng trong một vườn để cây thụ phấn chéo tốt, vì cà phê vối cần phấn từ cây khác dòng mới đậu quả nhiều.
Khi mua cây giống, điều nhà vườn trong xã hay dặn nhau là mua ở cơ sở có nguồn gốc rõ, hỏi cây ghép từ dòng nào, tránh cây con quá già trong bầu vì rễ đã cuộn. Với vườn đang có, không phải nhổ bỏ: nhiều hộ cưa thân cây kém rồi ghép chồi dòng tốt lên gốc cũ, giữ được bộ rễ sẵn có. Cách làm này được bàn kỹ hơn ở bài về tái canh trên trang.
Những thay đổi nhà vườn Quảng Khê đang trải qua
Cây cà phê vẫn là cây chính, nhưng cách làm vườn trong xã đã khác nhiều so với lúc khai hoang. Vài thay đổi dễ thấy nhất:
- Trồng xen thay vì thuần. Sầu riêng, bơ, tiêu được đưa vào vườn cà phê để chia rủi ro, không đặt cả năm vào một loại hạt.
- Hái chín thay vì hái tuốt xanh. Người mua cần hạt đều và ít hạt lỗi hơn, nên một phần hộ chuyển sang hái nhiều lần, chọn quả chín.
- Tưới tiết kiệm. Nước mùa khô ngày càng quý; tưới nhỏ giọt hoặc tưới gốc có bồn thay cho tưới tràn ở những vườn có điều kiện.
- Ghi chép vườn. Yêu cầu về nguồn gốc của người mua, nhất là hàng đi châu Âu, khiến việc ghi lại phân, thuốc, ngày hái và vị trí vườn không còn là chuyện riêng của trang trại lớn.
- Thiếu người hái. Lớp trẻ đi làm xa, mùa hái phải thuê người từ nơi khác hoặc đổi công giữa các nhà.
Những thay đổi này không diễn ra đồng loạt. Có hộ đã làm hết, có hộ vẫn giữ cách cũ vì thiếu vốn hay thiếu người. Điều chung là ai cũng nhìn cà phê như một phần trong cả vườn, chứ không còn là cây duy nhất.
Đọc một vườn cà phê khi mới đến Quảng Khê
Nếu bạn mới chuyển đến, mua hoặc nhận lại một vườn ở Quảng Khê, vài dấu hiệu giúp đọc sức khoẻ của vườn trước khi quyết định cách chăm. Cây có tán cân, cành ngang nhiều và đều là cây được tỉa tốt; cây cao vống, cành tập trung trên ngọn là cây bỏ tỉa lâu năm. Lá vàng đồng loạt có thể do thiếu dinh dưỡng hoặc rễ hỏng, khác với lá già rụng tự nhiên.
Nhìn mặt đất cũng nói được nhiều: đất trơ, rễ lộ ở lưng dốc là dấu hiệu xói lâu ngày; có lớp lá mục và cỏ thấp là vườn được giữ đất. Hỏi chủ cũ về nguồn nước, số lần tưới mỗi mùa khô, năm nào cây ra hoa kém, dùng giống gì và đã ghép lại chưa. Những câu trả lời ấy quan trọng hơn con số sản lượng mà người bán nào cũng dễ nói cao lên.
Cuối cùng, nên hỏi chuyện với hàng xóm và cán bộ khuyến nông của xã. Người trồng cà phê ở Quảng Khê thường sẵn lòng chỉ cho nhau cách làm, và kinh nghiệm của người đã qua vài mùa khô ở đúng thôn ấy có giá trị hơn mọi tài liệu chung.
Câu hỏi thường gặp
Quảng Khê trồng cà phê vối hay cà phê chè?
Chủ yếu là cà phê vối (robusta). Độ cao và khí hậu của xã hợp với cà phê vối hơn; cà phê chè cần vùng cao và lạnh hơn mới cho chất lượng tốt và ít bệnh, nên rất hiếm vườn cà phê chè trong địa bàn xã.
Mùa hái cà phê ở Quảng Khê rơi vào khoảng nào?
Thường từ cuối mùa mưa sang đầu mùa khô, quanh khoảng cuối năm. Vườn ở chỗ cao chín muộn hơn chỗ thấp, và năm hoa nở nhiều đợt thì mùa hái kéo dài hơn, nên mỗi vườn có lịch hơi khác nhau.
Vì sao vườn cà phê ở đây hay trồng xen nhiều loại cây?
Để chia rủi ro và tận dụng đất. Cây che bóng giảm nắng gắt và giữ ẩm, còn tiêu, sầu riêng, bơ cho thêm nguồn thu. Xen quá dày lại làm cây thiếu nắng và thiếu phân, nên mỗi vườn phải tự cân đối.
Cà phê trồng trên dốc có kém hơn đất bằng không?
Không hẳn. Dốc thoát nước tốt và ít úng, nhưng dễ trôi đất mặt và tốn công hơn. Vườn trồng theo đường đồng mức, có bồn gốc và băng cỏ giữ đất vẫn cho năng suất ổn định nhiều năm.
Mới mua vườn cà phê ở Quảng Khê thì nên hỏi chủ cũ những gì?
Nên hỏi nguồn nước tưới mùa khô, số đợt tưới, giống cây và đã ghép cải tạo chưa, năm nào ra hoa kém, lịch bón phân và thuốc đã dùng. Kết hợp nhìn tán cây và mặt đất để đánh giá vườn thay vì chỉ nghe con số sản lượng.