Khi xây dựng các nhà máy thủy điện trên thượng nguồn sông Đồng Nai, một số hộ sống ở vùng lòng hồ và khu vực công trình thuộc vùng Đắk Glong cũ đã phải rời nơi ở cũ, chuyển tới các khu tái định cư. Đối với các gia đình ấy, hồ nước rộng mà người ngoài nhìn thấy hôm nay là nơi từng có nhà, có rẫy, có mồ mả tổ tiên.
Tái định cư thủy điện ở Tây Nguyên nói chung đã để lại nhiều bài học: nơi ở mới có nhà cửa, đường, điện, trường, nhưng đất sản xuất thường thiếu hoặc kém hơn, nếp sống cũ gắn với sông và rừng bị đứt gãy, và nhiều hộ mất nhiều năm mới ổn định được sinh kế. Vùng Đắk Glong cũ không phải ngoại lệ.
Bài này kể câu chuyện ở mức chung, không nêu số hộ, số tiền hay tên dự án tái định cư cụ thể vì những con số ấy cần nguồn chính thức. Mục đích là giúp người đọc hiểu một phần lịch sử gần của vùng, và những gì người dân sau tái định cư vẫn đang đối mặt.
Vì sao phải tái định cư
Một hồ chứa thủy điện lớn nhấn chìm cả một vùng thung lũng dọc sông. Đất bãi ven sông, nơi đất thường màu mỡ nhất, nơi các làng của đồng bào bản địa hay đặt gần nguồn nước, là phần bị ngập đầu tiên. Ngoài vùng ngập, khu vực xây đập, nhà máy, đường thi công, bãi vật liệu cũng cần mặt bằng. Người sống ở những nơi ấy phải di dời theo quy định về thu hồi đất cho công trình.
Theo pháp luật về đất đai, người bị thu hồi đất được bồi thường về đất, tài sản trên đất, được hỗ trợ ổn định đời sống, chuyển đổi nghề và được bố trí tái định cư nếu mất chỗ ở. Cách tính, mức bồi thường và chính sách cụ thể thay đổi qua các thời kỳ và từng dự án; bài này không đi vào con số.
Ở vùng Đắk Glong cũ, các công trình trên sông Đồng Nai được xây dựng vào khoảng cuối những năm 2000 sang đầu những năm 2010. Đó cũng là thời kỳ huyện Đắk Glong còn rất mới, hạ tầng thiếu, nhiều thôn ở xa trung tâm. Việc di dời diễn ra cùng lúc với quá trình hình thành các trung tâm dân cư mới của huyện, trong đó có vùng Quảng Khê.
Những gì thay đổi khi chuyển tới nơi ở mới
Nhà ở. Khu tái định cư thường có nhà xây theo mẫu, dãy nhà giống nhau, gần đường, có điện. Với nhiều gia đình, đây là ngôi nhà kiên cố đầu tiên; với một số khác, nhà mới không hợp với nếp sinh hoạt quen thuộc, như bếp lửa, kho lúa, chỗ để nông cụ, chuồng gia súc gần nhà.
Đất sản xuất. Đất ở nơi mới thường là đất đồi, xa nhà hơn, có khi bạc màu hơn đất bãi ven sông cũ. Diện tích đất sản xuất được giao là vấn đề nhiều hộ tái định cư ở Tây Nguyên phản ánh nhất.
Nguồn nước. Rời xa sông, các gia đình phải phụ thuộc vào giếng, suối nhỏ hoặc hệ thống cấp nước của khu tái định cư. Khi hệ thống ấy hỏng hay thiếu nước mùa khô, đời sống gặp khó ngay.
Quan hệ với rừng và sông. Việc đánh cá, hái măng, lấy rau rừng, vốn là một phần sinh kế và văn hoá, bị hạn chế bởi khoảng cách và bởi các quy định bảo vệ rừng, hồ.
Cộng đồng. Có khu tái định cư giữ được các hộ cùng làng sống cạnh nhau, có khu lại phân tán. Quan hệ dòng họ, láng giềng và những sinh hoạt cộng đồng chịu ảnh hưởng theo đó.
Đất sản xuất: vấn đề kéo dài nhiều năm
Với các gia đình sống bằng nông nghiệp, đất sản xuất quyết định cuộc sống sau tái định cư. Ở nhiều dự án thủy điện tại Tây Nguyên, đất giao cho người tái định cư ở đồi dốc, xa khu ở, có nơi chưa khai hoang được ngay, có nơi trùng với đất rừng hoặc đất của người khác đang canh tác, dẫn tới chậm giao hoặc tranh chấp.
Không có đất tốt, nhiều hộ phải đi làm thuê, nhận khoán bảo vệ rừng, hoặc thuê đất của người khác để trồng. Một số hộ chuyển sang trồng cà phê, tiêu như các gia đình kinh tế mới trong vùng, nhưng thiếu vốn và kỹ thuật nên năng suất thấp trong những năm đầu. Người quen làm lúa rẫy, bắp, sắn ven sông phải học lại nghề nông trên đất đồi.
Những khó khăn này không giải quyết xong trong một hai năm. Các chương trình hỗ trợ sinh kế, khuyến nông, cho vay ưu đãi và giao khoán bảo vệ rừng là những cách được áp dụng để giúp người tái định cư. Hiệu quả khác nhau giữa các nơi, và ý kiến của chính người dân về những gì họ cần là điều quan trọng nhất.
Nếp sống đồng bào và ký ức về vùng lòng hồ
Vùng Đắk Glong cũ là nơi sinh sống lâu đời của đồng bào M'Nông, Mạ và một số dân tộc bản địa khác, cùng với người từ nhiều nơi đến lập nghiệp sau này. Với đồng bào bản địa, sông suối và rừng không chỉ là nguồn sống mà còn gắn với tập quán, lễ hội, nơi an táng, nơi các thế hệ sinh sống. Việc rời làng cũ ven sông vì thế mang ý nghĩa lớn hơn một cuộc chuyển nhà.
Khi lòng hồ dâng nước, những nơi chốn quen thuộc biến mất dưới mặt nước. Người lớn tuổi vẫn nhớ đường đi, tên các bãi sông, các khúc suối; con cháu sinh ra ở nơi ở mới thì chỉ biết qua lời kể. Một số nghĩa địa phải di dời trước khi tích nước, là việc nhạy cảm và cần được tổ chức tôn trọng phong tục của từng cộng đồng.
Ghi lại ký ức ấy, qua lời kể của người già, ảnh cũ, tên đất tên sông, là một cách giữ lại một phần lịch sử của vùng. Các bài về đồng bào và văn hoá trên trang nói thêm về nếp sống của các cộng đồng ở Quảng Khê hôm nay.
Những việc thường còn lại sau tái định cư
Kinh nghiệm từ nhiều khu tái định cư thủy điện ở Tây Nguyên cho thấy một số vấn đề thường kéo dài sau khi người dân đã chuyển tới nơi mới:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và đất sản xuất chưa được cấp đầy đủ hoặc có sai lệch so với thực tế.
- Hạ tầng khu tái định cư xuống cấp: đường nội bộ, hệ thống nước sinh hoạt, nhà văn hoá cần sửa chữa.
- Đất sản xuất thiếu, bạc màu hoặc xa, chưa đủ để sống bằng nông nghiệp.
- Thanh niên đi làm xa, người già ở lại, nếp sinh hoạt cộng đồng thay đổi.
- Thắc mắc về bồi thường, hỗ trợ chưa được giải đáp thoả đáng.
Người dân có thắc mắc về đất đai, bồi thường, hỗ trợ có quyền gửi đơn tới UBND xã và các cơ quan có thẩm quyền theo quy định về khiếu nại, kiến nghị. Sau khi Đắk Nông nhập vào Lâm Đồng và bỏ cấp huyện, nơi tiếp nhận và giải quyết một số việc đã thay đổi, nên hỏi xã về đầu mối hiện hành.
Người tái định cư ở Quảng Khê hôm nay
Theo thời gian, nhiều gia đình tái định cư đã ổn định cuộc sống: trồng cà phê, tiêu, nuôi gia súc, con cái đi học, có người làm việc ở các cơ sở dịch vụ dọc quốc lộ 28 hoặc đi làm ở thị trấn, thành phố. Một số hộ có thêm thu nhập từ khoán bảo vệ rừng, đánh cá trên hồ, làm công trong mùa hái cà phê.
Bên cạnh đó vẫn có những hộ gặp khó khăn kéo dài, nhất là hộ thiếu đất, đông con, có người ốm đau. Khoảng cách về thu nhập giữa các gia đình trong cùng một khu tái định cư có thể khá lớn. Các chương trình giảm nghèo, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và vùng khó khăn vẫn là chỗ dựa quan trọng.
Với người mới đến Quảng Khê, hiểu câu chuyện tái định cư giúp nhìn rõ hơn sự đa dạng của xã: những gia đình đã ở đây trước khi có hồ, những gia đình phải rời lòng hồ, những gia đình đến lập nghiệp từ nhiều tỉnh. Mỗi nhóm mang theo một câu chuyện riêng về vùng đất này.
Đổi nghề: phụ nữ và thanh niên sau tái định cư
Khi đất sản xuất không đủ nuôi cả nhà, nhiều gia đình tái định cư phải tìm thêm nguồn thu ngoài ruộng rẫy. Thanh niên đi làm công nhân ở các khu công nghiệp xa, làm phụ hồ, làm thuê theo mùa hái cà phê ở các xã lân cận. Có người học nghề lái xe, sửa xe, làm thợ xây rồi quay về làm việc ngay trong vùng.
Phụ nữ thường gánh phần lớn việc nhà, chăm con nhỏ, người già, đồng thời làm vườn, chăn nuôi nhỏ, đi làm thuê gần nhà. Các lớp dạy nghề ngắn hạn, các tổ vay vốn của hội phụ nữ, các chương trình hỗ trợ chăn nuôi, trồng trọt được tổ chức ở nhiều nơi trong vùng nhằm giúp họ có thêm thu nhập mà không phải đi xa.
Sự chuyển đổi nghề này vừa mở ra cơ hội vừa có cái giá: gia đình phân tán, trẻ em ở với ông bà, các sinh hoạt cộng đồng thưa dần. Đó là thay đổi chung của nhiều vùng nông thôn Việt Nam, nhưng ở các khu tái định cư, nó diễn ra nhanh và dồn dập hơn vì đất đai và nếp sống cũ đã thay đổi cùng lúc.
Bài học cho những công trình sau
Từ kinh nghiệm tái định cư thủy điện ở Tây Nguyên, nhiều nghiên cứu và báo cáo đã nêu những bài học chung: người dân cần được tham gia ý kiến ngay từ khi lập phương án, đất sản xuất phải được chuẩn bị trước khi di dời, nơi ở mới nên phù hợp với tập quán của từng cộng đồng, và hỗ trợ sinh kế cần kéo dài đủ lâu chứ không dừng sau vài năm đầu.
Những bài học ấy không chỉ có ý nghĩa với thủy điện. Bất kỳ công trình nào cần thu hồi đất lớn trong vùng, như đường giao thông, khu công nghiệp, khu khai khoáng, đều đặt ra những câu hỏi tương tự về đất ở, đất sản xuất và cộng đồng.
Với người dân, biết quyền và nghĩa vụ của mình khi bị thu hồi đất là điều cần thiết: được thông báo, được tham gia ý kiến, được bồi thường và hỗ trợ theo quy định, có quyền khiếu nại. Khi gặp tình huống này, hãy tìm hiểu kỹ văn bản, hỏi chính quyền và các tổ chức trợ giúp pháp lý trước khi ký các giấy tờ quan trọng.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao xây thủy điện phải tái định cư người dân?
Hồ chứa làm ngập thung lũng dọc sông, nơi thường có làng và đất canh tác; khu đập, nhà máy, đường thi công cũng cần mặt bằng. Người sống ở các khu vực này phải di dời và được bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo quy định.
Người tái định cư thủy điện thường gặp khó khăn gì?
Khó khăn lớn nhất là đất sản xuất thiếu, xa hoặc kém màu mỡ hơn đất cũ. Ngoài ra là nguồn nước, hạ tầng xuống cấp, giấy tờ đất chưa đầy đủ và sự thay đổi nếp sống gắn với sông và rừng.
Có số liệu về số hộ tái định cư ở vùng Đắk Glong cũ không?
Bài này không nêu số liệu vì cần nguồn chính thức. Thông tin về các dự án tái định cư, số hộ, chính sách có thể tìm ở chính quyền địa phương và các báo cáo công khai của cơ quan có thẩm quyền.
Người tái định cư có thắc mắc về đất đai thì hỏi ở đâu?
Gửi kiến nghị tới UBND xã Quảng Khê để được hướng dẫn tới đúng cơ quan. Sau sáp nhập tỉnh và bỏ cấp huyện, đầu mối giải quyết một số việc đã thay đổi; trợ giúp pháp lý miễn phí cũng có cho một số đối tượng.
Khi bị thu hồi đất cho công trình, người dân có những quyền gì?
Người dân có quyền được thông báo, được tham gia ý kiến về phương án, được bồi thường và hỗ trợ theo quy định, được bố trí tái định cư khi mất chỗ ở và có quyền khiếu nại. Nên đọc kỹ văn bản và hỏi trước khi ký.