QuangKhe.comQuảng Khê
Sông hồ và thủy điện

Đánh bắt cá trên hồ thủy điện quanh Quảng Khê: lưới, câu, mùa nước và luật khai thác

Nghề đánh cá trên các hồ thủy điện quanh Quảng Khê: lưới và câu, cá thường gặp, mùa nước lên xuống, những ngư cụ bị cấm và an toàn khi ra hồ bằng thuyền nhỏ.

A small wooden boat on a calm reservoir at dawn, a fisherman seen from behind pulling a gill net, mist over the water, forested hills in the background

Trên các hồ thủy điện gần Quảng Khê, đánh cá là nghề phụ của nhiều hộ ven hồ: thả lưới, đặt lú, câu tay, chủ yếu bằng thuyền nhỏ, bán cá tươi cho chợ và quán ăn trong vùng. Ít người sống hoàn toàn bằng nghề cá; phần lớn vẫn có vườn cà phê, đánh cá vào lúc rảnh hoặc theo mùa nước.

Nghề này gắn với hai điều kiện: mực nước hồ thay đổi theo mùa và theo vận hành nhà máy, và các quy định về khai thác thủy sản trên hồ chứa. Có những ngư cụ bị cấm, có những vùng hạn chế, và việc đi thuyền trên hồ sâu luôn đi kèm rủi ro đuối nước.

Bài này nói về nghề cá trên hồ từ góc đời sống: cá thường gặp, cách đánh phổ biến, mùa đánh, những điều cấm và an toàn. Nó không phải hướng dẫn câu cá giải trí, và không nêu giá cá.

Hồ chứa thành ngư trường như thế nào

Trước khi có hồ, đoạn sông Đồng Nai ở thượng nguồn chảy xiết, nhiều ghềnh, cá sông sống theo nhịp nước chảy. Khi đập chặn dòng, thung lũng ngập nước thành hồ sâu, nước tĩnh hơn, điều kiện sống của cá thay đổi. Một số loài sông quen nước chảy giảm đi; những loài hợp với nước tĩnh, nước sâu phát triển hơn. Hồ cũng thường được thả bổ sung cá giống trong các chương trình tái tạo nguồn lợi.

Với người dân ven hồ, mặt nước rộng mở ra một nguồn thức ăn và thu nhập mới. Những năm đầu sau khi hồ tích nước, nguồn cá thường dồi dào; về sau, nếu khai thác quá mức và bằng ngư cụ huỷ diệt, nguồn lợi giảm nhanh. Đây là câu chuyện chung của nhiều hồ thủy điện ở Tây Nguyên, và cũng là lý do các quy định về khai thác được đặt ra.

Các loài thường được nhắc tới trong những hồ chứa vùng này gồm những loài nước ngọt quen thuộc như cá rô phi, cá chép, cá mè, cá trắm, cá lóc, cá thát lát và một số loài cá da trơn như cá lăng. Thành phần cụ thể ở từng hồ khác nhau và thay đổi theo thời gian; người đánh cá lâu năm ở đó là người biết rõ nhất.

Những cách đánh cá phổ biến

Lưới thả (lưới bén). Lưới dài thả ngang mặt nước hoặc ở tầng giữa, cá bơi qua mắc vào mắt lưới. Người đánh thường thả chiều, gỡ sáng sớm. Kích cỡ mắt lưới quyết định cỡ cá bị bắt; mắt lưới quá nhỏ bắt cả cá non là điều bị hạn chế.

Lú, rọ, bẫy. Các dụng cụ dạng lồng có hom để cá vào mà khó ra, đặt ở ven bờ, dưới gốc cây ngập. Lú có mắt quá nhỏ, đặt dày đặc như hàng rào chắn là cách làm cạn kiệt nguồn cá nhanh.

Câu tay, câu giăng. Câu tay là cách nhiều người dùng để có cá ăn trong nhà. Câu giăng thả nhiều lưỡi trên một dây dài, đặt qua đêm, hay dùng để bắt cá da trơn ở tầng đáy.

Chài. Chài quăng ở ven bờ nước nông, bắt cá đàn. Cách này hợp với những khúc hồ cạn trong mùa khô.

Mùa nước và mùa cá

Mực nước hồ quyết định nhiều điều trong nghề cá. Đầu mùa mưa, nước bắt đầu lên, ngập dần vùng đất bán ngập có cỏ và cây bụi; đây là lúc nhiều loài cá vào ven bờ kiếm ăn và sinh sản. Cũng vì vậy, đây là thời gian nguồn lợi nhạy cảm nhất, đánh bắt cá đang sinh sản và cá non làm giảm mạnh lượng cá của những năm sau.

Giữa và cuối mùa mưa, hồ đầy, mặt nước rộng, cá phân tán, đánh khó hơn. Nước đục do bùn đất từ suối cũng làm thay đổi chỗ cá tập trung. Sang mùa khô, nước rút, hồ thu hẹp, cá dồn về những vùng sâu hơn, người đánh lưới và chài dễ bắt hơn. Đây thường là mùa đánh chính của nhiều hộ.

Bên cạnh mùa, lưu lượng nước qua nhà máy trong ngày cũng ảnh hưởng tới dòng chảy ở một số khu vực gần cửa nhận nước và hạ lưu đập. Người đánh cá lâu năm nhận ra những thay đổi này và tránh đặt lưới ở những chỗ nước chảy mạnh khi nhà máy chạy, vừa mất lưới vừa nguy hiểm.

Những ngư cụ và cách đánh bị cấm

Luật Thủy sản và các văn bản hướng dẫn quy định những ngư cụ, phương pháp khai thác bị cấm vì huỷ diệt nguồn lợi và nguy hiểm cho con người. Những điều cơ bản người đánh cá trên hồ cần biết:

  • Dùng điện để đánh bắt cá. Kích điện giết cả cá non, sinh vật khác và gây chết người; đây là hành vi bị cấm và bị xử lý nghiêm.
  • Dùng chất nổ, hoá chất, chất độc. Thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, chất độc thả xuống nước để bắt cá vừa bị cấm vừa đầu độc nguồn nước của cả vùng.
  • Ngư cụ có mắt lưới quá nhỏ. Lưới, lú có kích thước mắt nhỏ hơn mức cho phép bắt cả cá non; quy định cụ thể theo từng loại ngư cụ.
  • Chắn ngang dòng, đăng đó dày đặc. Rào chắn kín lối di chuyển của cá ở cửa suối, nơi cá lên đẻ, làm cạn kiệt nguồn lợi.
  • Khai thác trong vùng, mùa cấm. Một số khu vực, thời gian có thể bị hạn chế để bảo vệ cá sinh sản; hỏi UBND xã về quy định cụ thể của hồ.

Mức xử phạt cụ thể không nêu ở đây vì có thể thay đổi; điều chắc chắn là các hành vi trên đều bị cấm. Người thấy ai đó kích điện, thả thuốc trên hồ có thể báo chính quyền xã, vì hậu quả không chỉ là mất cá mà còn là nguy hiểm tính mạng và nguồn nước.

Những vùng trên hồ không được vào

Không phải chỗ nào trên mặt hồ cũng được thả lưới hay neo thuyền. Khu vực quanh đập, đập tràn, cửa nhận nước của nhà máy và lòng sông ngay phía dưới nhà máy thường là vùng bảo vệ công trình, cấm hoặc hạn chế người và phương tiện vào. Ở những chỗ này, dòng chảy có thể đột ngột mạnh khi nhà máy tăng công suất hoặc khi xả tràn, kéo thuyền và lưới về phía công trình.

Một phần vùng hồ và rừng ven hồ thuộc phạm vi Vườn quốc gia Tà Đùng hoặc rừng phòng hộ, nơi việc khai thác thủy sản, chặt cây làm cọc lưới, dựng lán có thể bị cấm hoặc phải tuân theo quy chế riêng. Người đánh cá quen từ trước khi có các quy định này đôi khi vẫn giữ thói quen cũ và gặp rắc rối với lực lượng kiểm lâm.

Cách chắc chắn nhất là hỏi UBND xã và cán bộ kiểm lâm địa bàn về ranh giới các vùng cấm, vùng hạn chế trên hồ nơi bạn hay đánh cá. Phao, biển báo khu vực nguy hiểm do đơn vị quản lý đặt trên hồ cần được tôn trọng, không tháo dỡ hay buộc thuyền vào.

Thuyền nhỏ và an toàn trên hồ

Phần lớn người đánh cá trên hồ dùng thuyền nhỏ: thuyền gỗ, thuyền composite hoặc thuyền tôn, có hoặc không gắn máy. Hồ chứa thủy điện sâu, nước lạnh ở tầng dưới, bờ dốc, nhiều gốc cây chìm. Thời tiết cao nguyên đổi nhanh; giông chiều mùa mưa có thể nổi sóng trên mặt hồ rộng trong vài phút.

Những tai nạn thường gặp là lật thuyền khi gặp gió, khi đứng kéo lưới nặng một bên mạn, hoặc khi chở quá nhiều người, nhiều hàng. Người rơi xuống nước lạnh, mặc quần áo dày, vướng lưới rất khó tự bơi vào bờ. Nhiều vụ đuối nước trên hồ chứa xảy ra với người biết bơi nhưng chủ quan không mặc áo phao.

Nguyên tắc tối thiểu: luôn mặc áo phao khi ra hồ, không đi một mình vào ban đêm hay khi trời giông, báo người nhà biết khu vực và giờ về, không uống rượu trước khi ra hồ, không chở quá tải. Thuyền có máy, thuyền chở người, chở hàng còn phải đáp ứng các yêu cầu về đăng ký, đăng kiểm theo quy định về giao thông đường thủy nội địa.

Đánh cá như nghề phụ của nhà vườn

Với nhiều hộ ở Quảng Khê và các xã ven hồ, đánh cá không thay được vườn cà phê, nhưng là nguồn thu xen kẽ có giá trị: những tuần nông nhàn giữa mùa khô, những lúc chờ tưới, chờ hái. Cá ăn trong nhà cũng giảm khoản chi mua thực phẩm, nhất là với gia đình đông người.

Cá đánh được thường bán tươi cho người mua tại bến, cho chợ trong vùng và các quán ăn dọc đường. Cá hồ là một phần của bữa ăn địa phương và của những quán phục vụ khách đi qua. Một số hộ làm khô, nướng hoặc chế biến đơn giản một phần cá để bán chậm hơn.

Vì là nghề phụ, nhiều người không đầu tư nhiều vào thiết bị an toàn hay tìm hiểu kỹ quy định. Đó chính là chỗ rủi ro. Một chiếc áo phao, một chiếc lưới đúng mắt và một cuộc hỏi chuyện với cán bộ xã về vùng được phép đánh là khoản đầu tư nhỏ so với những gì có thể mất.

Giữ nguồn cá cho những năm sau

Nguồn cá trên hồ không vô tận. Khi mọi người cùng đánh bắt nhiều hơn, bằng lưới mắt nhỏ hơn, vào cả mùa cá đẻ, sản lượng sẽ giảm qua từng năm, và người chịu thiệt đầu tiên là chính các hộ sống bằng nghề này. Những hồ chứa từng có nhiều cá ở các nơi khác đã đi qua vòng ấy.

Ở một số nơi, chính quyền phối hợp với đơn vị quản lý hồ và người dân thả cá giống bổ sung, khoanh vùng bảo vệ nơi cá sinh sản, tổ chức tổ cộng đồng giám sát việc khai thác. Hiệu quả của những cách làm ấy phụ thuộc vào việc người đánh cá có cùng giữ luật hay không.

Người đánh cá ở Quảng Khê có thể góp phần bằng những việc đơn giản: thả lại cá quá nhỏ, không đánh ở cửa suối mùa cá lên đẻ, dùng đúng mắt lưới, báo khi thấy kích điện, thả thuốc. Đó là cách giữ nghề cho chính mình.

Câu hỏi thường gặp

Người dân có được đánh cá trên hồ thủy điện không?

Thường được phép khai thác bằng ngư cụ hợp pháp, ngoài các vùng và thời gian bị hạn chế. Quy định cụ thể với từng hồ, như khu vực cấm gần đập, cửa nhận nước, có thể khác nhau; hãy hỏi UBND xã trước khi đánh bắt thường xuyên.

Kích điện bắt cá có bị cấm không?

Có. Dùng điện để đánh bắt cá bị cấm vì huỷ diệt cả cá non, sinh vật khác và rất nguy hiểm cho tính mạng con người. Dùng chất nổ, hoá chất, chất độc cũng bị cấm. Thấy hành vi này có thể báo chính quyền xã.

Mùa nào đánh cá trên hồ được nhiều?

Thường là mùa khô khi nước rút, hồ thu hẹp và cá dồn về vùng sâu. Đầu mùa mưa là lúc nhiều loài cá sinh sản ở ven bờ, cần hạn chế đánh bắt để giữ nguồn cá cho những năm sau.

Ra hồ đánh cá cần chuẩn bị gì để an toàn?

Mặc áo phao, không đi một mình ban đêm hay khi trời giông, báo người nhà khu vực và giờ về, không uống rượu, không chở quá tải. Thuyền có máy, thuyền chở người cần đăng ký, đăng kiểm theo quy định.

Trên hồ thường có những loại cá nào?

Thường gặp các loài nước ngọt quen thuộc như rô phi, chép, mè, trắm, lóc, thát lát và một số cá da trơn như cá lăng. Thành phần loài khác nhau giữa các hồ và thay đổi theo thời gian, cả do thả cá giống bổ sung.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.