Trẻ em ở xã Quảng Khê lớn lên giữa nhiều tiếng nói: tiếng M'Nông, tiếng Mạ trong các bon bản địa, tiếng Mông, tiếng Tày, Nùng, Dao trong các làng phía Bắc, và tiếng phổ thông ở trường, ở chợ. Tiếng phổ thông giúp trẻ học hành, đi xa; nhưng ở nhiều gia đình, tiếng mẹ đẻ đang lùi dần vào bếp nhà, và cùng với nó là kho truyện kể, câu hát ru, sử thi.
Bài này viết cho cha mẹ, ông bà, thầy cô và những ai quan tâm tới việc giữ tiếng nói của các cộng đồng ở Quảng Khê: vì sao tiếng mẹ đẻ mai một, sử thi và truyện kể là gì, song ngữ có làm trẻ học kém đi không, và mỗi gia đình có thể làm gì trong đời sống hằng ngày.
Một xã, nhiều tiếng nói
Hiếm nơi nào như những xã miền núi Tây Nguyên, nơi trong vòng vài cây số có thể nghe tới năm, sáu thứ tiếng thuộc những ngữ hệ khác nhau. Tiếng M'Nông và tiếng Mạ thuộc nhóm Môn – Khmer; tiếng Mông và tiếng Dao thuộc nhóm Mông – Dao; tiếng Tày, tiếng Nùng thuộc nhóm Tày – Thái; tiếng Việt thuộc nhóm Việt – Mường. Ở Quảng Khê, những tiếng ấy cùng có mặt trong một phiên chợ, một lớp học.
Tiếng phổ thông là tiếng chung, dùng trong hành chính, trường học, buôn bán. Nhưng trong gia đình, nhất là ở nhà ông bà, tiếng mẹ đẻ vẫn là tiếng của tình cảm, của câu chuyện bên bếp lửa, của lời khấn trong lễ, của câu chửi yêu khi con cháu nghịch. Một người mất tiếng mẹ đẻ không chỉ mất một công cụ giao tiếp mà mất cả lối vào kho chuyện của gia đình mình.
Ngay trong một cộng đồng, tiếng nói cũng có biến thể. Tiếng M'Nông của nhóm này khác tiếng M'Nông của nhóm kia ở cách phát âm, ở một số từ; tiếng Mông của người Mông Hoa khác người Mông Trắng. Người lớn tuổi nghe một câu là đoán được người nói từ đâu tới. Những khác biệt nhỏ ấy là dấu vết của lịch sử di chuyển, cư trú của từng nhóm, và cũng là thứ đầu tiên mất đi khi tiếng mẹ đẻ chỉ còn dùng trong bếp nhà.
Với người ngoài, biết rằng một xã có nhiều tiếng nói giúp hiểu vì sao nhiều buổi họp, buổi khám bệnh, buổi tuyên truyền cần người phiên dịch, và vì sao trẻ em đồng bào bước vào lớp một với một khó khăn mà trẻ người Kinh không có.
Vì sao tiếng mẹ đẻ đang lùi dần
Nguyên nhân đầu tiên là trường học và công việc. Trẻ đi học bằng tiếng phổ thông, đi làm xa nói tiếng phổ thông, xem điện thoại, ti vi bằng tiếng phổ thông. Cha mẹ muốn con học giỏi, có việc làm, nên nhiều nhà chủ động nói tiếng phổ thông với con từ nhỏ, nghĩ như vậy con sẽ đỡ thiệt.
Nguyên nhân thứ hai là hôn nhân giữa các cộng đồng. Một gia đình có bố người Kinh, mẹ người M'Nông, hay bố người Tày, mẹ người Mông, thường chọn tiếng phổ thông làm tiếng chung trong nhà. Trẻ lớn lên hiểu tiếng của bên nội hoặc bên ngoại một chút nhưng không nói được.
Nguyên nhân thứ ba là những dịp dùng tiếng mẹ đẻ ít đi. Khi lễ của bon thưa dần, những đêm kể sử thi, hát đối đáp không còn, những người già biết nhiều chuyện lần lượt mất, thì tiếng mẹ đẻ mất đi những lĩnh vực sử dụng sâu nhất, chỉ còn lại tiếng của bữa cơm, của chuyện thường ngày.
Không ai có lỗi trong chuyện này. Nhưng nếu không có ai chủ động giữ, chỉ sau hai, ba thế hệ, một tiếng nói có thể chỉ còn người già nói được.
Sử thi, truyện cổ và hát ru: kho chuyện của các cộng đồng
Người M'Nông có kho sử thi đồ sộ, trong đó sử thi Ót N'Drong là tên được nhắc nhiều nhất, kể về những người anh hùng, những cuộc chiến, những cuộc hôn nhân giữa các bon, với rất nhiều chi tiết về đời sống, phong tục xưa. Sử thi được hát kể bằng tiếng M'Nông, có khi kéo dài nhiều đêm bên bếp lửa. Nhiều tác phẩm đã được các nhà nghiên cứu ghi âm, phiên âm, dịch và xuất bản trong các chương trình sưu tầm sử thi Tây Nguyên.
Người Mạ có kho truyện cổ, lời nói vần, những bài hát kể trong lễ, trong đám cưới. Người Mông có những bài hát giao duyên, bài khèn, truyện cổ về nguồn gốc dòng họ. Người Tày, Nùng có then, sli, lượn và kho truyện cổ tích phong phú. Mỗi kho chuyện ấy chỉ sống trọn vẹn trong tiếng gốc của nó; dịch sang tiếng Việt, nhiều vần điệu, nhiều lối chơi chữ mất đi.
Hát ru là lớp đầu tiên của kho chuyện mà một đứa trẻ được nghe. Một em bé được bà hát ru bằng tiếng M'Nông, tiếng Mông, dù lớn lên nói tiếng phổ thông nhiều hơn, vẫn giữ lại âm điệu ấy trong tai. Nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng những năm đầu đời là lúc dễ “gieo” tiếng mẹ đẻ nhất.
Song ngữ có làm trẻ học kém đi không
Nhiều cha mẹ lo nói tiếng mẹ đẻ ở nhà sẽ khiến con chậm tiếng phổ thông, học kém ở trường. Bảng dưới đặt nỗi lo ấy cạnh những điều đã được quan sát trong giáo dục song ngữ:
| Nỗi lo thường gặp | Điều đã được quan sát |
|---|---|
| Nói tiếng mẹ đẻ ở nhà làm con chậm tiếng phổ thông | Trẻ có thể học hai thứ tiếng song song; giai đoạn đầu có lẫn lộn là bình thường, về sau thường tách được rõ |
| Phải bỏ tiếng mẹ đẻ để con theo kịp bạn | Trẻ hiểu khái niệm bằng tiếng mẹ đẻ trước thường học chữ, học toán bằng tiếng thứ hai thuận hơn khi có thầy cô hỗ trợ |
| Tiếng mẹ đẻ không có ích cho tương lai | Biết tiếng của cộng đồng là lợi thế trong nghề giáo viên, y tế, cán bộ, hướng dẫn du lịch ở địa phương |
| Con sẽ tự học lại khi lớn | Học lại tiếng mẹ đẻ khi đã lớn khó hơn nhiều so với giữ từ nhỏ; nhiều người lớn tiếc vì không còn nói được với ông bà |
Điều quan trọng là cả hai thứ tiếng đều được dùng đủ nhiều. Ở nhà nói tiếng mẹ đẻ, ở trường học tiếng phổ thông, và cha mẹ quan tâm tới việc học của con, là sự kết hợp mà nhiều gia đình đã làm được.
Ở trường: lớp học có thầy cô biết tiếng của trò
Những năm đầu tiểu học là giai đoạn khó nhất với trẻ đồng bào. Trẻ phải vừa học chữ, học số, vừa học một thứ tiếng mới. Ở nhiều điểm trường vùng sâu, thầy cô biết tiếng mẹ đẻ của học trò, dù chỉ vài câu, đã giúp các em đỡ sợ, hiểu bài nhanh hơn. Một số chương trình giáo dục đã thử dạy song ngữ ở lớp đầu cấp, dùng tiếng mẹ đẻ làm cầu nối.
Ở các tỉnh Tây Nguyên, có nơi dạy tiếng dân tộc như một môn học cho học sinh, có nơi mở lớp tiếng dân tộc cho cán bộ, giáo viên công tác ở vùng đồng bào. Những lớp này phụ thuộc vào chính sách và nguồn giáo viên từng năm, nên phụ huynh muốn biết trường của con có dạy hay không thì hỏi trực tiếp nhà trường.
Người làm giáo dục ở Quảng Khê, nếu mới đến, hãy học vài câu chào hỏi, khen ngợi, an ủi bằng tiếng của học trò. Một câu “giỏi lắm” bằng tiếng mẹ đẻ có sức nặng mà mười câu tiếng phổ thông không có.
Một kinh nghiệm hay được các thầy cô vùng đồng bào chia sẻ là nhờ chính học sinh lớn làm cầu nối: em lớp trên giảng lại cho em lớp dưới bằng tiếng mẹ đẻ, rồi cả hai cùng nói lại bằng tiếng phổ thông. Cách này vừa giúp trẻ nhỏ hiểu bài, vừa cho trẻ lớn thấy tiếng mẹ đẻ của mình có ích. Phụ huynh cũng có thể góp phần bằng cách hỏi con hôm nay học gì, cho con kể lại bằng tiếng nói trong nhà. Một đứa trẻ giải thích được bài toán bằng cả hai thứ tiếng là đứa trẻ đã thật sự hiểu bài.
Giữ tiếng mẹ đẻ trong nhà: những việc làm được ngay
Không cần dự án lớn, mỗi gia đình có thể làm những việc nhỏ hằng ngày:
- Ông bà, cha mẹ nói tiếng mẹ đẻ với con từ khi còn bé, kể cả khi con trả lời bằng tiếng phổ thông; trẻ hiểu trước rồi mới nói.
- Hát ru, kể chuyện cổ bằng tiếng mẹ đẻ trước giờ ngủ, chọn những truyện ngắn có nhân vật dễ nhớ.
- Gọi tên đồ vật, cây cối, con vật trong nhà, ngoài vườn bằng tiếng mẹ đẻ; biến việc đi rẫy, đi chợ thành những buổi học tự nhiên.
- Cho trẻ dự các lễ của bon, của làng, ngồi nghe người già nói, nghe chiêng, nghe khèn.
- Ghi âm ông bà kể chuyện, hát bằng điện thoại, lưu lại cho cả nhà; đó có thể là bản ghi duy nhất còn lại sau này.
- Khen khi con nói được tiếng mẹ đẻ, đừng chê sai, đừng chế giễu cách phát âm của con.
Những việc này không tốn tiền, chỉ cần người lớn nhớ làm. Một đứa trẻ hiểu được tiếng của ông bà là một đứa trẻ có thêm một quê hương trong lòng.
Người ngoài góp tay thế nào
Người ngoài cộng đồng, như giáo viên, cán bộ, người làm du lịch, nhà nghiên cứu, có thể góp tay theo những cách vừa sức. Học vài câu tiếng địa phương và dùng chúng một cách tôn trọng. Khi ghi lại truyện kể, bài hát, hãy xin phép, ghi rõ người kể, gửi lại bản ghi cho gia đình. Khi in sách, làm phim, chia lại lợi ích cho người kể theo cách thoả đáng.
Tránh những việc tưởng giúp mà hoá hại: bắt trẻ biểu diễn tiếng mẹ đẻ như một tiết mục lạ, chế giễu giọng nói, gọi tiếng của cộng đồng là “tiếng địa phương” với ý coi nhẹ. Tiếng M'Nông, tiếng Mạ, tiếng Mông đều là những ngôn ngữ đầy đủ, có ngữ pháp, có văn chương truyền miệng, không kém bất kỳ tiếng nói nào.
Một điều đơn giản mà ít ai làm: khi viết về một nơi như Quảng Khê, ghi đúng tên bon, tên người theo cách cộng đồng tự gọi. Tên gọi là phần bền nhất của tiếng nói; giữ được tên là giữ được một phần.
Câu hỏi thường gặp
Tiếng M'Nông có chữ viết không?
Có. Tiếng M'Nông có hệ chữ viết dùng chữ cái La-tinh, được dùng trong một số sách, tài liệu, lớp học tiếng và trong việc phiên âm sử thi. Tuy vậy, phần lớn người M'Nông dùng tiếng mẹ đẻ để nói và dùng chữ quốc ngữ tiếng Việt khi viết.
Sử thi Ót N'Drong là gì?
Đây là một trong những sử thi nổi tiếng của người M'Nông, được hát kể bằng tiếng M'Nông, kể về những người anh hùng và đời sống các bon xưa. Nhiều phần đã được sưu tầm, dịch và xuất bản. Người muốn đọc nên tìm các ấn phẩm của các viện nghiên cứu văn hoá dân gian.
Nói hai thứ tiếng ở nhà có làm trẻ nói ngọng không?
Trẻ học hai thứ tiếng có thể có giai đoạn lẫn từ, phát âm chưa chuẩn, nhưng đó thường là bình thường và qua đi khi trẻ lớn. Nếu lo về khả năng nói của con, cha mẹ nên hỏi giáo viên mầm non hoặc nhân viên y tế để được tư vấn cụ thể.
Ở Quảng Khê có lớp dạy tiếng dân tộc cho người lớn không?
Các lớp tiếng dân tộc cho cán bộ, giáo viên thường do ngành giáo dục hoặc chính quyền tổ chức theo từng đợt, không cố định. Muốn học, hỏi ủy ban xã hoặc trường học gần nhất, hoặc nhờ một người trong bon, trong làng dạy riêng.
Ghi âm người già kể chuyện cần lưu ý gì?
Xin phép trước, nói rõ ghi để làm gì, chọn nơi yên tĩnh, ghi đủ dài, ghi lại tên người kể và ngày ghi. Gửi lại một bản cho gia đình. Nếu sau này dùng để in sách, làm phim, phải hỏi lại và chia sẻ lợi ích cho người kể.
Trẻ lớn rồi có học lại tiếng mẹ đẻ được không?
Được, nhưng khó hơn nhiều so với giữ từ nhỏ. Cách hiệu quả là sống nhiều với ông bà, dự lễ của cộng đồng, nghe và nói hằng ngày. Một số nơi có lớp tiếng dân tộc; tài liệu học tiếng cũng có, nhưng không thay được việc nói chuyện với người thật.