QuangKhe.comQuảng Khê
Đồng bào và văn hoá

Người Tày, Nùng, Dao và người Kinh nhiều miền ở Quảng Khê: làng mới, nếp cũ

Đồng bào Tày, Nùng, Dao và người Kinh từ nhiều miền ở Quảng Khê giữ gì của quê cũ: hát then, đàn tính, Tết, giỗ chạp, đồng hương, và họ đã thành người Tây Nguyên ra sao.

Older man playing a long-necked gourd lute on a wooden porch while a woman in an indigo tunic sits listening, coffee trees behind the house, soft afternoon light, faces partly hidden

Bên cạnh người M'Nông, người Mạ bản địa và người Mông, xã Quảng Khê còn có đồng bào Tày, Nùng, Dao từ các tỉnh phía Bắc và người Kinh từ nhiều miền vào lập nghiệp. Người Tày, Nùng mang theo hát then, đàn tính, những mâm cỗ Tết; người Dao giữ trang phục thêu, các lễ trong gia đình; người Kinh giữ giỗ chạp, Tết quê và những hội đồng hương nhỏ.

Những cộng đồng này thường được gộp chung là “dân kinh tế mới” hay “dân di cư”, nhưng mỗi nhóm có một nếp sống riêng, và qua vài chục năm, họ đã thành một phần của vùng đất. Bài này giới thiệu những nét văn hoá của họ ở Quảng Khê, cách họ giữ nếp cũ trong làng mới và cách các cộng đồng hoà vào nhau.

Người Tày, người Nùng: những làng có tiếng đàn tính

Người Tày và người Nùng sống chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang cũ. Từ những năm sau 1975, nhất là cuối thế kỷ 20, nhiều gia đình đã vào Tây Nguyên, có đợt theo chương trình đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, có đợt tự đi theo họ hàng. Vùng Đắk Nông cũ, gồm cả Đắk Glong, là nơi có khá nhiều làng Tày, Nùng.

Hai cộng đồng có tiếng nói gần nhau, cùng nhóm Tày – Thái, nhiều tập quán tương đồng, nên ở Tây Nguyên họ thường sống cùng làng, thông gia với nhau. Nhà ở quê cũ là nhà sàn gỗ; vào đây, phần lớn làm nhà đất, nhà xây, nhưng vẫn giữ bàn thờ tổ tiên trang trọng ở gian giữa, giữ cách bày mâm cỗ ngày lễ.

Nét văn hoá dễ nhận ra nhất là hát then với đàn tính. Then là một loại hình hát, đàn, có khi kèm múa, có mặt trong các nghi lễ của gia đình và trong sinh hoạt văn nghệ. Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Ở các làng Tày, Nùng trên Tây Nguyên, câu lạc bộ hát then, đàn tính là nơi người lớn tuổi dạy lại cho thanh niên.

Người Nùng có thêm lối hát sli, người Tày có hát lượn, đều là những lối hát giao duyên đối đáp. Ngày nay ít còn những đêm hát đối đáp kéo dài như xưa, nhưng trong các buổi giao lưu văn nghệ của xã, vẫn có những bài sli, lượn được hát lại.

Lễ Tết của người Tày, Nùng ở làng mới

Người Tày, Nùng ăn Tết Nguyên đán như người Kinh nhưng có cách làm riêng: gói bánh chưng theo kiểu riêng, làm bánh khảo, bánh gio, mổ lợn chia phần, cúng tổ tiên. Những ngày đầu năm là dịp đi thăm họ hàng, hát then, hát sli. Ngoài Tết Nguyên đán, họ còn ăn một số Tết khác trong năm theo âm lịch như Tết Thanh minh, Tết rằm tháng Bảy, mỗi Tết một mâm cỗ riêng.

Lễ hội lồng tồng, nghĩa là xuống đồng, là lễ hội đầu năm của người Tày, Nùng ở quê cũ, cầu mùa màng tốt tươi, có trò tung còn, kéo co, hát giao duyên. Ở Tây Nguyên, không phải làng nào cũng tổ chức lồng tồng; ở một số nơi, chính quyền và các làng tổ chức lễ hội này như một dịp giữ văn hoá và gặp gỡ đồng hương. Tung còn, trò ném quả còn qua vòng tròn trên đỉnh cây nêu, là hình ảnh dễ nhớ nhất.

Đám cưới, mừng nhà mới, mừng thọ của người Tày, Nùng thường có hát then hay hát đối đáp, mâm cỗ đặt trên mặt đất hoặc trên chiếu, với những món của quê như khâu nhục, lạp sườn, xôi màu. Món ăn của đồng bào phía Bắc ở Quảng Khê được nói riêng trong danh mục ẩm thực của trang.

Người Dao: trang phục thêu và các lễ trong gia đình

Người Dao ở Việt Nam có nhiều nhóm, dễ nhận ra qua trang phục: Dao Đỏ với khăn đội đầu đỏ, Dao Tiền với hàng xu bạc trên áo, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y và nhiều nhóm khác. Ở vùng Đắk Glong cũ, đồng bào Dao sống thành những cụm nhỏ, xen với người Tày, Nùng, Mông và người Kinh.

Phụ nữ Dao nổi tiếng với nghề thêu: hoa văn dày đặc trên áo, khăn, quần, thêu bằng chỉ màu theo những mẫu truyền từ mẹ sang con. Một bộ trang phục thêu đầy đủ có thể mất nhiều tháng. Ở Tây Nguyên, nhiều phụ nữ Dao vẫn thêu trong lúc rảnh việc vườn, nhất là để chuẩn bị đồ cưới cho con gái.

Người Dao có nhiều nghi lễ quan trọng trong gia đình, trong đó lễ cấp sắc được coi là lễ trưởng thành của nam giới, do thầy cúng trong cộng đồng thực hiện theo nghi thức truyền thống. Đây là việc riêng của gia đình, dòng họ; người ngoài chỉ nên tìm hiểu qua tài liệu đã công bố hoặc khi được mời, không nên tò mò hỏi han chi tiết nghi lễ.

Như nhiều cộng đồng di cư, người Dao ở đây đang đứng trước câu hỏi giữ gì, bỏ gì. Người lớn tuổi lo trẻ không còn nói tiếng Dao, không biết thêu; người trẻ thì phải lo học hành, làm ăn. Các buổi giao lưu văn hoá của xã là một trong ít dịp trang phục Dao được mặc đầy đủ.

Người Kinh: giọng nói nhiều miền và giỗ chạp quê cũ

Người Kinh ở Quảng Khê đến từ khắp nơi: miền Bắc như Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên cũ; miền Trung như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi; và cả từ các tỉnh phía Nam lên làm ăn. Có người theo nông trường, lâm trường từ những năm đầu, có người lên sau khi huyện Đắk Glong được thành lập, mở tiệm, mở quán ở trung tâm huyện.

Mỗi lớp người mang theo nếp quê: giỗ chạp tính theo ngày âm lịch, mâm cỗ theo kiểu miền gốc, cách gói bánh chưng hay bánh tét, cách nói, cách mời. Người miền Trung ở đây vẫn ăn mắm, ăn cay; người miền Bắc vẫn nấu canh cua, muối dưa. Những bữa giỗ là dịp họ hàng, đồng hương tụ lại, có khi từ nhiều xã khác tới.

Hội đồng hương là một nét đặc biệt của vùng di dân. Người cùng quê gốc, cùng huyện cũ ở ngoài kia, lập những hội nhỏ, gặp nhau dịp Tết, thăm nhau lúc ốm đau, góp tiền giúp nhau khi có việc. Với người mới đến, tìm được hội đồng hương là tìm được chỗ dựa đầu tiên.

Hoà vào nhau: chợ, đám cưới và những đứa trẻ hai quê

Sau vài chục năm, ranh giới giữa các cộng đồng ở Quảng Khê đã mềm đi nhiều. Đám cưới giữa người Tày và người Kinh, giữa người Nùng và người M'Nông không còn hiếm. Một đám cưới như vậy có thể vừa có mâm cỗ Tày, vừa có rượu cần, vừa có ban nhạc đám cưới kiểu miền xuôi, và ai cũng thấy tự nhiên.

Trẻ con là nơi sự hoà trộn rõ nhất. Một em bé có bố người Nghệ, mẹ người Tày, học cùng lớp với bạn M'Nông, bạn Mông, nói giọng pha trộn của cả vùng. Với các em, quê là Quảng Khê, còn Cao Bằng hay Nghệ An là quê của ông bà. Những đứa trẻ hai quê ấy sẽ là người định nghĩa văn hoá của vùng đất này trong vài chục năm tới.

Sự hoà trộn có cái được và cái mất. Được là cộng đồng gắn bó, ít định kiến hơn. Mất là tiếng nói riêng, lối hát riêng, nghề thêu, nghề dệt mai một nhanh. Giữ được cả hai là việc không dễ, cần những người lớn tuổi chịu dạy và những người trẻ chịu học.

Sau sáp nhập: thêm láng giềng, thêm dịp gặp

Từ tháng 7/2025, xã Quảng Khê mới gồm thêm địa bàn của xã Đắk Plao cũ. Với các cộng đồng Tày, Nùng, Dao, Kinh, điều này có nghĩa là thêm những làng láng giềng cùng xã, thêm những gia đình đồng hương, thêm những dịp gặp nhau trong các hoạt động chung của xã mới.

Các câu lạc bộ văn nghệ, đội hát then, đội chiêng của từng thôn có thể được mời tham gia những buổi giao lưu lớn hơn. Nếu bạn là người trong một cộng đồng nhỏ, đây là cơ hội tìm được người cùng tiếng nói, cùng lối hát ở thôn khác mà trước đây chưa biết tới.

Với người làm công tác văn hoá ở xã, một bản đồ đơn giản ghi lại thôn nào có đội then, ai còn biết thêu Dao, ai biết đánh chiêng, sẽ giúp ích nhiều hơn mọi bản báo cáo. Đó cũng là một cách để không cộng đồng nào bị bỏ quên trong xã mới rộng hơn.

Với người lớn tuổi, việc tên xã cũ Đắk Plao không còn trên giấy tờ có thể gợi chút bâng khuâng. Nhưng tên thôn, tên làng, những mối quan hệ đồng hương, thông gia vẫn ở nguyên đó. Ghi lại tên các làng cũ, ai lập làng, năm nào, là việc nhỏ mà các gia đình có thể làm để con cháu sau này còn biết.

Từ ruộng nước quê cũ sang vườn cà phê

Ở quê cũ vùng Đông Bắc, người Tày, Nùng chủ yếu làm ruộng nước dưới thung lũng, trồng lúa, ngô, nuôi trâu, kết hợp làm nương. Vào Tây Nguyên, nhiều gia đình lúc đầu tìm những khe suối, thung lũng thấp để khai ruộng nước, cấy lúa như ở quê. Những mảnh ruộng nhỏ ven suối ở vùng Đắk Glong cũ, nếu bạn để ý, thường có bàn tay của người phía Bắc.

Nhưng ruộng nước trên cao nguyên không nhiều, nước tưới mùa khô khó, nên dần dần cà phê, hồ tiêu trở thành nguồn sống chính, giống như với mọi cộng đồng khác trong xã. Người Dao, quen làm nương rẫy trên núi, chuyển sang cà phê khá nhanh. Người Kinh từ đồng bằng phải học lại từ đầu cách làm vườn trên đất dốc, đất đỏ.

Sự chuyển đổi nghề nghiệp kéo theo thay đổi trong lịch sinh hoạt. Những lễ gắn với mùa cấy, mùa gặt lúa nước ở quê cũ thưa dần hoặc chỉ còn làm tượng trưng, trong khi mùa hái cà phê cuối năm trở thành thời điểm bận rộn nhất. Tết Nguyên đán vì thế vừa là Tết, vừa là dịp nghỉ ngơi sau vụ thu hoạch, và mâm cỗ Tết của nhiều gia đình phía Bắc ở đây thường đầy đặn hơn ở quê.

Có một điều nhiều người lớn tuổi hay nhắc: lên Tây Nguyên, họ học được của người M'Nông, người Mạ cách nhận biết rau rừng, măng rừng, cách đoán mưa nắng của cao nguyên. Ngược lại, kỹ thuật làm ruộng nước, nuôi cá ao, trồng rau theo luống của người phía Bắc cũng lan sang các bon bản địa. Đó là sự trao đổi lặng lẽ mà không ai ghi lại.

Câu hỏi thường gặp

Người Tày, Nùng vào Tây Nguyên từ khi nào?

Nhiều gia đình vào Tây Nguyên sau năm 1975, nhất là trong các đợt đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới và các đợt di cư tự do cuối thế kỷ 20. Thời điểm cụ thể của từng làng khác nhau; người lớn tuổi trong làng thường nhớ rõ năm gia đình mình đến.

Hát then có phải là nghi lễ cúng bái không?

Then vừa có mặt trong một số nghi lễ của gia đình người Tày, Nùng, Thái, vừa là một loại hình nghệ thuật dân gian có đàn tính, hát, múa. Ngày nay, hát then trong câu lạc bộ văn nghệ phần lớn mang tính biểu diễn và giao lưu văn hoá.

Ở Quảng Khê có lễ hội lồng tồng không?

Lồng tồng là lễ hội đầu năm của người Tày, Nùng ở quê cũ. Ở Tây Nguyên, một số nơi có tổ chức, một số nơi không. Muốn biết năm nay xã hay thôn có tổ chức hay không, hỏi ủy ban xã hoặc các làng Tày, Nùng trong xã.

Hội đồng hương ở đây hoạt động thế nào?

Thường là hội tự nguyện của người cùng quê gốc, họp mặt dịp Tết, thăm hỏi khi ốm đau, góp tiền giúp nhau khi có việc hiếu hỷ. Không có trụ sở hay lịch họp cố định. Người mới đến có thể hỏi người cùng quê đang sống ở xã để được giới thiệu.

Có thể học thêu của người Dao không?

Có thể, nếu được một người thêu đồng ý dạy. Hãy hỏi qua người quen trong làng, dành thời gian ngồi cùng, và hiểu rằng học thêu cần nhiều tháng. Trả công dạy hoặc mua sản phẩm của người dạy là cách cảm ơn thiết thực.

Người Kinh mới đến nên làm gì để hoà nhập?

Tham gia sinh hoạt của thôn, chào hỏi hàng xóm, tìm hội đồng hương nếu có, cho con học cùng con em các dân tộc khác và dự những dịp vui khi được mời. Tôn trọng tập quán của các cộng đồng khác và giữ lời hứa trong làm ăn là đủ để được tin cậy.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.