Nuôi cá lồng trên hồ thủy điện là nghề một số hộ và cơ sở ở vùng ven hồ gần Quảng Khê đã thử và duy trì: đặt lồng lưới nổi trên mặt nước sâu, thả cá giống, cho ăn và thu hoạch sau nhiều tháng. Nghề tận dụng được mặt nước rộng, nước sạch tương đối, nhưng cần vốn ban đầu, cần thủ tục và chịu nhiều rủi ro mà người mới thường không lường hết.
Khác với ao nuôi trên đất nhà, lồng nằm trên hồ chứa của một công trình thủy điện, chịu ảnh hưởng của mực nước lên xuống theo vận hành, của nước đục mùa mưa, của giông gió và của chất lượng nước từ cả lưu vực đổ về. Không ai kiểm soát hết những yếu tố này.
Bài này giải thích các điều kiện cơ bản, các rủi ro chính và những thủ tục nên tìm hiểu trước. Không có giá cá, không có tính toán lời lỗ và không khuyên đầu tư; quyết định là của mỗi người sau khi tìm hiểu kỹ.
Nuôi cá lồng trên hồ khác nuôi ao thế nào
Trong ao, người nuôi kiểm soát gần như mọi thứ: mực nước, nước vào ra, bùn đáy, có thể tát cạn để vệ sinh. Trên hồ chứa, lồng chỉ là một khối lưới treo trên phao giữa một khối nước khổng lồ. Ưu điểm là nước được trao đổi liên tục, cá có không gian rộng hơn, mật độ có thể cao hơn ao nếu nước tốt. Nhược điểm là khi nước của cả hồ có vấn đề, người nuôi gần như không làm gì được.
Lồng thường được làm bằng khung sắt hoặc ống nhựa, phao là thùng nhựa, lưới bao quanh, có lối đi để cho ăn và kiểm tra. Nhiều lồng đặt cạnh nhau thành bè, có chòi canh. Vị trí đặt lồng phải đủ sâu để đáy lồng cách đáy hồ, kể cả khi mực nước xuống thấp nhất trong mùa khô.
Vì lồng nằm trên mặt nước công cộng của hồ chứa, việc đặt lồng liên quan tới quy hoạch sử dụng mặt nước, an toàn công trình thủy điện, giao thông thủy và bảo vệ môi trường. Đó là lý do nuôi lồng cần được phép, không giống việc đào ao trên đất vườn.
Các loài hay được nuôi lồng trên hồ chứa
Lựa chọn loài phụ thuộc vào nước, giống sẵn có, kỹ thuật và đầu ra. Bảng mô tả chung, không phải khuyến nghị:
| Nhóm cá | Đặc điểm chung | Điều người nuôi hay để ý |
|---|---|---|
| Rô phi, diêu hồng | Lớn nhanh, dễ nuôi, ăn thức ăn công nghiệp | Nhạy với nước lạnh và thiếu oxy; nhiều người nuôi nên dễ trùng mùa bán |
| Cá lăng và cá da trơn khác | Thịt chắc, nuôi lâu hơn | Giống khó hơn, cần nước sạch, kỹ thuật cao hơn |
| Cá chép, trắm | Quen thuộc, dễ tiêu thụ trong vùng | Trắm cỏ cần nguồn cỏ, lá; dễ bệnh khi nước xấu |
| Cá lóc | Dễ bán, chịu được điều kiện khó | Ăn thịt, cần thức ăn đạm; nuôi lồng cần lưới chắc |
Người mới thường bắt đầu với loài dễ nuôi, mua giống ở cơ sở có kiểm dịch, thả mật độ vừa phải và học qua một hai vụ trước khi mở rộng. Không nên thả những loài ngoại lai có nguy cơ thoát ra hồ và gây hại cho cá bản địa mà không hỏi cơ quan chuyên môn.
Thủ tục cần tìm hiểu trước khi đặt lồng
Pháp luật về thủy sản, tài nguyên nước và an toàn công trình thủy lợi, thủy điện đặt ra các yêu cầu cho việc nuôi trồng trên hồ chứa. Những việc nên làm trước:
- Hỏi UBND xã Quảng Khê về vùng mặt nước được phép nuôi, vùng cấm gần đập, cửa nhận nước, luồng thuyền.
- Tìm hiểu thủ tục đăng ký hoặc cấp phép nuôi trồng thủy sản bằng lồng bè theo quy định hiện hành.
- Liên hệ đơn vị quản lý hồ chứa nếu được hướng dẫn, vì việc đặt lồng có thể cần sự đồng ý về an toàn công trình.
- Tìm hiểu yêu cầu về đăng ký phương tiện thủy nếu dùng thuyền máy phục vụ bè.
- Nắm quy định về bảo vệ môi trường: không xả thải, thu gom bao bì thức ăn, xử lý cá chết đúng cách.
Thủ tục và đầu mối có thể đã thay đổi sau khi Đắk Nông nhập vào Lâm Đồng. Đặt lồng trước rồi mới hỏi là cách dễ gặp rắc rối nhất, vì lồng không phép có thể bị yêu cầu tháo dỡ.
Những rủi ro chính của cá lồng trên hồ
Mực nước hạ quá thấp. Cuối mùa khô, nước hồ xuống, lồng đặt ở chỗ cạn có thể chạm đáy, cá bị xây xát, nước ở đáy bẩn và thiếu oxy. Người nuôi phải di chuyển lồng ra chỗ sâu hơn theo mép nước.
Nước đục và lạnh đầu mùa mưa. Bùn đất từ suối đổ về làm nước đục, nhiệt độ thay đổi đột ngột; cá dễ stress, bỏ ăn, bệnh.
Thiếu oxy. Những ngày oi nóng, lặng gió, nước phân tầng hoặc tảo nở nhiều, oxy trong nước giảm vào ban đêm và sáng sớm; cá có thể nổi đầu và chết hàng loạt trong vài giờ.
Giông gió và trôi lồng. Gió mạnh trên mặt hồ rộng làm đứt neo, gãy khung, rách lưới, cá thoát ra ngoài.
Bệnh. Mật độ cao, nước xấu, giống không sạch là điều kiện cho bệnh lây lan nhanh trong bè.
Ô nhiễm từ lưu vực. Thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, nước thải từ vườn và khu dân cư theo suối về hồ có thể ảnh hưởng tới cá, nhất là sau những trận mưa đầu mùa.
Giảm rủi ro: những việc người nuôi lâu năm hay làm
Chọn vị trí là quyết định quan trọng nhất. Nơi đặt lồng nên đủ sâu kể cả khi nước xuống thấp, có dòng nước trao đổi nhẹ, khuất gió mạnh, xa cửa suối mang bùn đất và xa khu nước thải. Người nuôi lâu năm thường quan sát hồ qua cả mùa khô lẫn mùa mưa trước khi đặt lồng.
Mật độ thả vừa phải, cho ăn đủ nhưng không dư, vì thức ăn thừa làm bẩn nước quanh lồng. Theo dõi cá hằng ngày, đặc biệt vào sáng sớm, để phát hiện dấu hiệu nổi đầu, bỏ ăn. Một số bè có thiết bị sục khí hoặc dự phòng để xử lý những ngày oxy thấp.
Vệ sinh lưới định kỳ để nước lưu thông, kiểm tra neo, phao, lưới trước mùa giông. Cá chết phải được vớt và xử lý trên bờ, không thả trôi trên hồ. Ghi chép ngày thả, lượng thức ăn, hiện tượng bất thường giúp nhận ra quy luật và rút kinh nghiệm qua từng vụ.
Bắt đầu nhỏ: một vụ thử đầu tiên
Người nuôi có kinh nghiệm trong vùng thường khuyên người mới bắt đầu bằng một hoặc vài lồng, không làm cả bè lớn ngay. Một vụ thử giúp hiểu nước hồ ở chỗ mình đặt lồng thay đổi ra sao qua các tháng, cá ăn thế nào, những ngày nào nguy hiểm, và quan trọng nhất là ai sẽ mua cá khi tới lúc thu.
Trong vụ đầu, nên ghi chép kỹ: ngày thả, số lượng và cỡ giống, lượng thức ăn mỗi ngày, nhiệt độ và màu nước nếu quan sát được, số cá hao hụt và nguyên nhân phỏng đoán. Cuối vụ, những con số này cho bạn biết khoản nào tốn kém nhất, giai đoạn nào hao hụt nhiều nhất. Không có ghi chép, mỗi vụ đều như vụ đầu.
Cũng nên kết nối với những người nuôi khác trên cùng vùng hồ. Khi một bè gặp bệnh hay cá nổi đầu, thông tin đến sớm giúp các bè bên cạnh kịp chuẩn bị. Học hỏi lẫn nhau trong nhóm nhỏ thường hiệu quả hơn tự mày mò, và cũng thuận lợi hơn khi cùng làm thủ tục, cùng tìm đầu ra.
Đầu ra và chuyện tính toán
Cá lồng thường được bán tươi cho thương lái đến tận bè, cho chợ và quán ăn trong vùng. Vì nhiều bè cùng thả giống vào những thời điểm thuận lợi, đến lúc thu hoạch có thể trùng nhau, người mua có nhiều lựa chọn. Hộ nuôi nhỏ lẻ thường gặp khó khi đầu ra không ổn định.
Chi phí của nghề gồm lồng bè, giống, thức ăn chiếm phần lớn, công chăm, thuốc phòng bệnh và hao hụt. Thức ăn công nghiệp là khoản chi biến động, quyết định nhiều tới kết quả mỗi vụ. Người định nuôi nên ghi rõ các khoản này và hỏi những người đã nuôi trong vùng về những vụ thất bại, không chỉ những vụ thành công.
Trang này không đưa ra con số lời lỗ vì mỗi bè, mỗi vụ một khác. Điều chắc chắn là nghề cá lồng trên hồ thủy điện có rủi ro cao hơn nhiều người nghĩ, và nên bắt đầu nhỏ, học dần, trước khi đặt nhiều vốn.
Nuôi cá lồng và chất lượng nước hồ
Bè cá, khi đông, cũng tác động ngược lại tới hồ. Thức ăn thừa, phân cá làm tăng chất dinh dưỡng trong nước quanh khu bè, có thể làm tảo phát triển, nước có mùi. Khi quá nhiều bè tập trung trong một vùng nhỏ, chất lượng nước xấu đi, chính cá trong bè chịu ảnh hưởng đầu tiên.
Vì vậy, quy hoạch vùng nuôi, giới hạn số lồng trên một vùng mặt nước là cần thiết. Người nuôi giữ mật độ hợp lý, không cho ăn dư, không dùng hoá chất, thuốc bừa bãi là đang giữ nước cho chính mình và cho các bè xung quanh.
Với người dân Quảng Khê dùng nước suối và nước hồ cho sinh hoạt và tưới tiêu ở một số nơi, một hồ sạch là lợi ích chung. Nghề cá lồng phát triển bền vững khi đặt trong giới hạn mà hồ chịu được.
Một điều nữa ít được nhắc là rác từ bè: bao thức ăn, phao hỏng, lưới rách, thùng nhựa cũ. Những thứ này nếu bỏ lại trên mặt nước hay vứt xuống hồ sẽ trôi dạt vào bờ, mắc vào các khúc cây ngập và tồn tại nhiều năm. Thu gom rác bè về bờ, đưa tới nơi thu gom của thôn, là phần việc của người nuôi có trách nhiệm.
Câu hỏi thường gặp
Nuôi cá lồng trên hồ thủy điện có cần xin phép không?
Có. Đặt lồng trên mặt nước hồ chứa liên quan tới quy hoạch mặt nước, an toàn công trình, giao thông thủy và môi trường, nên cần đăng ký hoặc cấp phép theo quy định. Hỏi UBND xã Quảng Khê về vùng được phép và thủ tục hiện hành.
Vì sao cá lồng hay chết hàng loạt?
Nguyên nhân hay gặp là thiếu oxy vào ban đêm và sáng sớm những ngày oi lặng, nước đục và lạnh đột ngột đầu mùa mưa, mực nước hạ làm lồng chạm đáy, bệnh lây trong bè mật độ cao và ô nhiễm từ lưu vực.
Nên nuôi loài cá nào trên hồ?
Tuỳ nước, giống sẵn có, kỹ thuật và đầu ra. Rô phi, diêu hồng dễ nuôi; cá lăng, cá da trơn cần kỹ thuật cao hơn. Người mới nên bắt đầu với loài dễ, giống có kiểm dịch và hỏi cơ quan chuyên môn trước khi nuôi loài lạ.
Mùa khô nước hồ xuống thì làm gì với lồng?
Di chuyển lồng ra chỗ sâu hơn theo mép nước để đáy lồng không chạm đáy hồ, kiểm tra neo và phao, giảm mật độ nếu cần. Chọn vị trí đủ sâu ngay từ đầu giúp giảm việc phải di dời.
Bè cá có làm ô nhiễm hồ không?
Có thể, nếu mật độ quá cao và cho ăn dư. Thức ăn thừa và phân cá làm tăng chất dinh dưỡng, tảo phát triển, nước xấu đi. Giữ mật độ hợp lý, không cho ăn dư và quy hoạch vùng nuôi giúp hạn chế.