Xã Quảng Khê hiện nay (từ 1/7/2025 gồm xã Quảng Khê và xã Đắk Plao của huyện Đắk Glong cũ, thuộc tỉnh Lâm Đồng) là nơi sống chung của bốn lớp cư dân: người M'Nông và người Mạ là cư dân bản địa của cao nguyên này; đồng bào các dân tộc phía Bắc như Mông, Dao, Tày, Nùng vào lập nghiệp chủ yếu từ cuối thế kỷ 20; và người Kinh từ nhiều tỉnh miền Bắc, miền Trung đến làm rẫy, buôn bán dọc quốc lộ 28.
Không có con số tỷ lệ nào được nêu trong bài này, vì dân cư ở đây thay đổi theo từng đợt di cư và số liệu chính thức nằm ở cơ quan thống kê, ủy ban xã. Điều bài này làm được là phác ra ai đang sống ở đây, họ đến từ đâu, nhận ra nhau qua những gì, và một người mới đến, một người đi làm, hay một người con xa quê nên hiểu gì để sống cùng cho thuận.
Người M'Nông và người Mạ: những cư dân có mặt từ trước
Trước khi có quốc lộ, có huyện, có những đợt khai hoang lớn, vùng rừng núi quanh thượng nguồn sông Đồng Nai đã là nơi cư trú của các nhóm nói tiếng thuộc ngữ hệ Môn – Khmer. Ở vùng Đắk Glong cũ, hai cộng đồng được nhắc nhiều nhất là người M'Nông và người Mạ. Làng của họ ở Đắk Nông cũ thường được gọi là bon, khác với chữ buôn quen dùng ở Đắk Lắk; người ngoài nói buôn cũng không ai trách, nhưng nghe được chữ bon là biết người nói đã chịu để ý.
Nếp sống cũ của hai cộng đồng gắn với rẫy lúa, rẫy bắp, săn bắt hái lượm trong rừng và một năm xoay theo mùa mưa, mùa khô. Nhà cửa, bếp lửa, ché rượu, bộ chiêng, chiếc gùi là những thứ còn nhìn thấy được hôm nay, dù phần lớn gia đình đã trồng cà phê, hồ tiêu như mọi hộ khác và nhiều nhà đã xây tường gạch.
Người M'Nông và người Mạ có tiếng nói riêng, cách gọi họ, cách tổ chức gia đình và nghi lễ riêng. Gộp chung thành “người Tây Nguyên” là cách nói tiện miệng nhưng làm mất đi khác biệt mà chính người trong cộng đồng rất coi trọng. Muốn biết một bon cụ thể là của nhóm nào, cách đơn giản nhất là hỏi già làng hoặc cán bộ văn hoá của xã.
Đồng bào phía Bắc: những làng mới trên đất đỏ
Từ khoảng cuối những năm 1980 và nhất là thập niên 1990, nhiều gia đình người Mông, Dao, Tày, Nùng và một số dân tộc khác từ các tỉnh miền núi phía Bắc đã vào Tây Nguyên tìm đất. Vùng Đắk Glong cũ, với rừng còn nhiều và đất đỏ bazan tốt, là một trong những nơi đón nhiều đợt di cư như vậy. Có đợt theo chương trình của nhà nước, có đợt là người dân tự đi theo họ hàng, người cùng bản.
Những làng của đồng bào phía Bắc thường có nếp nhà, cách đặt bếp, cách làm ruộng bậc thang hay nương ngô gợi nhớ quê cũ, nhưng nhanh chóng chuyển sang cây cà phê, hồ tiêu vì đó là cây nuôi sống người ở đây. Tết Mông, tiếng khèn, chiếc váy xoè thêu, hay những buổi hát then của người Tày là những thứ họ mang theo và vẫn giữ.
Đời sống của những làng này từng rất vất vả: đất mới, đường chưa có, trường lớp, điện, nước phải chờ nhiều năm. Một phần câu chuyện của Quảng Khê hôm nay chính là quá trình những làng ấy dần ổn định, có đường bê tông, có điểm trường, có thế hệ con cháu sinh ra ngay trên đất Tây Nguyên và coi nơi này là quê.
Người Kinh nhiều miền: rẫy cà phê và phố dọc quốc lộ
Người Kinh ở Quảng Khê không đến cùng một lúc mà theo nhiều lớp. Có người vào từ những năm đầu khai hoang, có người theo các nông trường, lâm trường, có người lên sau khi Đắk Glong thành huyện và Quảng Khê thành nơi đặt trung tâm huyện, mở quán, mở tiệm dọc quốc lộ 28. Giọng nói vì thế rất pha trộn: giọng Bắc, giọng Thanh Nghệ, giọng Quảng, giọng Sài Gòn cùng nghe trong một buổi chợ.
Lớp người này giữ phong tục quê gốc: giỗ chạp, Tết Nguyên đán với bánh chưng hoặc bánh tét tuỳ vùng gốc, các hội đồng hương nhỏ. Đồng thời họ học nhiều thứ từ người bản địa, từ cách nhận biết rau rừng, măng rừng tới mùa mưa nắng của cao nguyên mà quê cũ không có.
Ở các khu dân cư ven quốc lộ, người Kinh làm phần lớn việc buôn bán, sửa xe, thu mua nông sản, dịch vụ ăn uống. Ở trong các thôn xa đường, họ là chủ những vườn cà phê, hồ tiêu, sầu riêng xen lẫn với vườn của đồng bào. Ranh giới cộng đồng ở đây không vạch bằng hàng rào mà bằng thói quen sinh hoạt, và ranh giới ấy ngày càng mềm.
Nhận ra các cộng đồng qua những nét dễ thấy
Bảng dưới gom vài nét mà người mới đến có thể để ý. Đây là gợi ý để hiểu, không phải khuôn để xếp người: nhiều gia đình đã trộn lẫn, nhiều người trẻ ăn mặc, nói năng như mọi thanh niên khác.
| Cộng đồng | Cách gọi làng | Nét văn hoá còn dễ thấy | Dịp nên biết |
|---|---|---|---|
| M'Nông | bon | cồng chiêng, rượu cần ủ trong ché, gùi đan, nhà có bếp lửa giữa | lễ mừng lúa mới sau mùa rẫy |
| Mạ | bon | dệt thổ cẩm trên khung dệt đeo lưng, chiêng, các lễ theo mùa | lễ sau thu hoạch, ngày vui của bon |
| Mông | thôn, bản | váy xoè thêu, tiếng khèn, ném pao, chợ phiên nhỏ | Tết Mông vào cuối năm |
| Tày, Nùng | thôn, bản | hát then với đàn tính, nhà có bàn thờ tổ tiên, món xôi màu | Tết Nguyên đán, lễ cuối năm |
| Dao | thôn, bản | trang phục thêu nhiều hoa văn, khăn đội đầu | các lễ trong gia đình, Tết |
| Kinh | thôn, tổ dân phố | giỗ chạp, chợ, tiệm dọc quốc lộ | Tết Nguyên đán |
Một gợi ý thực tế: khi chưa chắc ai thuộc cộng đồng nào, đừng đoán qua quần áo hay giọng nói. Hỏi tên làng, hỏi quê gốc là cách tự nhiên và lịch sự hơn.
Sống chung: chợ, trường học và tiếng nói chung
Nơi các cộng đồng gặp nhau nhiều nhất là chợ, trường học và vườn cà phê mùa thu hoạch. Ở chợ, người M'Nông, người Mạ mang ra rau rừng, măng, cà đắng; người Mông mang rau cải, bí, gà đen; người Kinh bán tạp hoá, thịt cá, đồ khô. Tiếng phổ thông là tiếng chung, nhưng nhiều người buôn bán lâu năm biết thêm vài câu tiếng M'Nông hay tiếng Mông để chào hỏi.
Ở trường, trẻ các dân tộc học chung một lớp. Với trẻ bon làng và trẻ làng Mông, tiếng phổ thông là tiếng thứ hai, nên những năm đầu tiểu học là giai đoạn khó. Giáo viên giỏi ở vùng này thường là người chịu học vài từ tiếng mẹ đẻ của học trò để giảng bài cho dễ hiểu.
Mùa hái cà phê, từ khoảng cuối năm, là lúc người các làng đi làm thuê cho nhau, ăn chung bữa trưa giữa vườn. Hôn nhân giữa các cộng đồng cũng ngày càng nhiều. Những mối nối ấy, hơn mọi khẩu hiệu, là thứ làm cho một xã nhiều dân tộc thành một cộng đồng.
Những vấn đề thật mà người mới đến nên hiểu
Một vùng nhiều dân tộc không chỉ có màu sắc lễ hội. Có những chuyện thật mà người đến làm việc, làm ăn ở Quảng Khê nên hiểu để cư xử cho đúng. Chuyện đầu tiên là đất: nhiều gia đình bản địa từng mất đất rẫy qua mua bán, sang nhượng không giấy tờ rõ ràng, nên chuyện đất là chuyện nhạy cảm; khi mua bán, thuê mướn đất ở thôn, bon, hãy làm đúng thủ tục và minh bạch.
Chuyện thứ hai là khoảng cách trong học hành, việc làm. Nhiều thanh niên đồng bào học xong không có việc ở quê, phải đi làm xa. Người đến mở cơ sở, mở vườn, nếu tuyển lao động địa phương, trả công rõ ràng, đúng hẹn, sẽ được làng tin cậy lâu dài hơn mọi lời giới thiệu.
Chuyện thứ ba là văn hoá bị biến thành hàng trưng bày. Bộ chiêng, ché rượu, khung dệt là đồ của gia đình, của bon, không phải đạo cụ. Muốn xem, muốn chụp ảnh, muốn nghe đánh chiêng, hãy hỏi trước và nghe câu trả lời, kể cả khi câu trả lời là không. Bài về phép lịch sự khi đến bon làng trong cùng danh mục sẽ nói kỹ hơn.
Sau ngày 1/7/2025: xã mới, bon làng vẫn ở chỗ cũ
Từ ngày 1/7/2025, Đắk Nông cùng Bình Thuận nhập vào tỉnh Lâm Đồng, cấp huyện được bỏ, xã Quảng Khê cũ và xã Đắk Plao cũ hợp thành xã Quảng Khê mới. Với đời sống văn hoá, thay đổi ấy chủ yếu nằm trên giấy tờ: địa chỉ ghi khác đi, nơi làm thủ tục đổi, nhưng bon, thôn, bản vẫn ở nguyên chỗ, già làng vẫn là già làng, lịch lễ vẫn theo mùa rẫy.
Một điều đáng để ý là xã mới rộng hơn, có thêm những cộng đồng của Đắk Plao cũ mà trước đây người Quảng Khê ít qua lại. Các hoạt động văn hoá chung của xã, như hội diễn cồng chiêng hay ngày hội các dân tộc nếu được tổ chức, sẽ là dịp để hai bên gặp nhau nhiều hơn.
Người con quê ở đây đi xa, khi điền giấy tờ, nên ghi đúng địa chỉ mới (xã Quảng Khê, tỉnh Lâm Đồng) nhưng cứ giữ tên bon, tên thôn như cũ trừ khi có thông báo đổi tên chính thức. Tên làng là phần ký ức không nên mất theo một đợt sắp xếp hành chính.
Người mới đến và người con xa quê: tìm hiểu bắt đầu từ đâu
Người mới chuyển tới Quảng Khê để làm việc, dạy học, mở cửa hàng thường hỏi nên tìm hiểu cộng đồng nơi đây từ đâu cho khỏi vụng. Chỗ bắt đầu dễ nhất là những người gần mình nhất: chủ nhà trọ, đồng nghiệp người địa phương, phụ huynh học sinh. Một câu hỏi thật lòng về quê gốc, về lễ Tết sắp tới thường mở ra những câu chuyện mà không sách nào ghi.
Chỗ thứ hai là các sinh hoạt chung của xã và thôn: ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư, hội diễn văn nghệ, các buổi đánh chiêng mừng một công trình mới. Đến dự với tư cách người trong xã chứ không phải khách tham quan, ngồi đúng chỗ được mời, ăn uống vừa phải, ở lại tới khi chủ nhà kết thúc là cách được quý nhất.
Chỗ thứ ba dành cho người muốn hiểu sâu hơn: bảo tàng và thư viện cấp tỉnh có hiện vật, sách nghiên cứu về người M'Nông, người Mạ và các dân tộc phía Bắc ở Tây Nguyên. Với người con xa quê, nhiều khi chính ông bà, cha mẹ là kho chuyện quý nhất mà ít ai kịp hỏi. Một buổi ngồi ghi lại chuyện ngày đầu lên vùng đất này của gia đình mình là món quà cho cả đời sau.
Câu hỏi thường gặp
Người M'Nông và người Mạ có phải là một dân tộc không?
Không. Đây là hai dân tộc khác nhau trong danh mục các dân tộc Việt Nam, cùng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer nên có nhiều nét gần nhau, nhưng tiếng nói, cách tổ chức gia đình, trang phục và nghi lễ có khác biệt. Gọi đúng tên là cách tôn trọng đơn giản nhất.
Bon và buôn khác nhau thế nào?
Cả hai đều chỉ làng của đồng bào bản địa Tây Nguyên. Bon là cách gọi quen dùng của người M'Nông, người Mạ ở Đắk Nông cũ; buôn là cách gọi quen thuộc ở Đắk Lắk, gắn nhiều với người Ê Đê. Ở Quảng Khê, nghe và dùng chữ bon sẽ đúng với cách người địa phương gọi.
Đồng bào Mông ở Quảng Khê đến từ đâu?
Phần lớn đồng bào Mông ở vùng Đắk Glong cũ có gốc từ các tỉnh miền núi phía Bắc, vào Tây Nguyên qua nhiều đợt từ cuối thế kỷ 20, có người theo chương trình, có người tự đi theo họ hàng. Quê gốc cụ thể của từng làng khác nhau, muốn biết thì hỏi trực tiếp người trong làng.
Có số liệu chính xác về tỷ lệ các dân tộc trong xã không?
Số liệu dân tộc theo từng xã được cơ quan thống kê và ủy ban xã nắm qua các cuộc điều tra dân số. Sau khi hai xã nhập lại từ tháng 7/2025, số liệu cũ của từng xã không còn khớp với xã mới. Cần con số chính thức thì hỏi ủy ban xã Quảng Khê.
Người ngoài đến Quảng Khê có cần học tiếng đồng bào không?
Không bắt buộc, vì tiếng phổ thông dùng được ở chợ, ủy ban, trường học. Nhưng nếu làm việc lâu dài với một bon hay một làng Mông, biết vài câu chào hỏi, cảm ơn bằng tiếng của họ sẽ mở lòng người nhanh hơn nhiều. Người làng thường rất vui khi khách chịu học.
Đi dự lễ của đồng bào có cần xin phép không?
Lễ của gia đình hay của bon là việc của cộng đồng, không phải sự kiện bán vé. Nếu được mời thì đến đúng giờ, ăn mặc kín đáo, làm theo hướng dẫn của chủ nhà. Nếu chỉ nghe tin có lễ mà chưa ai mời, hãy hỏi già làng hoặc người quen trong bon trước khi đến.