Các nhà máy thủy điện trên sông Đồng Nai, cũng như nhiều cơ sở dùng nước khác, phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho chủ rừng trong lưu vực, vì rừng giữ đất, giữ nước và điều hoà dòng chảy cho hồ. Một phần tiền này đến với các hộ gia đình, cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng, trong đó có người dân ở vùng Quảng Khê và các xã lân cận.
Đây là một trong những chính sách hiếm hoi biến việc giữ rừng thành nguồn thu nhập đều đặn cho người dân sống gần rừng. Lâm Đồng là một trong những địa phương áp dụng chính sách này sớm nhất cả nước. Với nhiều hộ đồng bào ở vùng Đắk Glong cũ, khoản tiền khoán rừng là nguồn thu đáng kể bên cạnh vườn rẫy.
Bài này giải thích cơ chế ở mức nguyên lý, công việc của người nhận khoán và những điều cần biết. Không nêu mức tiền cụ thể vì mức chi trả thay đổi theo năm, theo lưu vực và theo loại rừng; hãy hỏi đơn vị chủ rừng hoặc UBND xã.
Vì sao thủy điện phải trả tiền cho rừng
Một hồ thủy điện sống nhờ nước từ lưu vực. Rừng trên lưu vực làm ba việc mà nhà máy cần: giữ đất không trôi xuống hồ làm bồi lấp lòng hồ; điều hoà dòng chảy, giữ nước trong đất mùa mưa rồi nhả dần ra suối mùa khô; và giảm lũ đột ngột. Mất rừng, hồ nhanh đầy bùn, nước về thất thường, nhà máy chịu thiệt.
Những lợi ích đó trước đây được coi là miễn phí. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đặt nguyên tắc người hưởng lợi từ dịch vụ của rừng phải trả tiền cho người giữ rừng. Các cơ sở thủy điện, cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch, cơ sở kinh doanh du lịch hưởng lợi từ cảnh quan rừng là những đối tượng phải chi trả theo pháp luật về lâm nghiệp.
Với thủy điện, số tiền được tính theo sản lượng điện thương phẩm và chuyển về quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh. Quỹ tính toán và chi trả lại cho các chủ rừng trong lưu vực theo diện tích, hệ số loại rừng, mức độ khó khăn. Chủ rừng là tổ chức như ban quản lý rừng, vườn quốc gia, công ty lâm nghiệp thì giao khoán lại một phần cho hộ gia đình và cộng đồng để cùng bảo vệ.
Dòng tiền đi từ nhà máy tới người giữ rừng
Bảng mô tả đường đi của tiền chi trả ở mức nguyên lý. Chi tiết từng bước do văn bản hiện hành quy định:
| Bước | Ai làm | Nội dung |
|---|---|---|
| 1 | Nhà máy thủy điện và cơ sở sử dụng dịch vụ | Nộp tiền dịch vụ môi trường rừng theo quy định |
| 2 | Quỹ bảo vệ và phát triển rừng | Tiếp nhận, xác định diện tích rừng của từng lưu vực, tính mức chi trả |
| 3 | Chủ rừng (ban quản lý, vườn quốc gia, công ty lâm nghiệp, cộng đồng, hộ có rừng) | Nhận tiền theo diện tích rừng được giao, được kiểm tra chất lượng rừng |
| 4 | Hộ gia đình, cộng đồng nhận khoán | Nhận tiền khoán sau khi nghiệm thu kết quả bảo vệ rừng |
Hộ được nhà nước giao rừng trực tiếp thì nhận tiền như chủ rừng; hộ nhận khoán từ tổ chức thì nhận qua tổ chức đó. Cách nhận, kỳ nhận, thủ tục nghiệm thu khác nhau giữa các đơn vị, nên người nhận khoán cần hỏi kỹ ngay từ khi ký hợp đồng.
Người nhận khoán làm những việc gì
Hợp đồng khoán bảo vệ rừng giao cho hộ hoặc nhóm hộ một diện tích rừng cụ thể, có ranh giới trên thực địa. Người nhận khoán có trách nhiệm đi tuần tra định kỳ, phát hiện và báo kịp thời các vụ chặt phá, lấn chiếm đất rừng, săn bắt động vật hoang dã, cháy rừng; tham gia chữa cháy rừng khi được huy động; không tự ý khai thác gỗ, đốt nương trong diện tích khoán.
Ở nhiều nơi, các hộ được tổ chức thành tổ, nhóm tuần tra, đi theo lịch, có cán bộ kiểm lâm hoặc ban quản lý rừng hướng dẫn. Mùa khô là mùa cao điểm về nguy cơ cháy rừng, tuần tra dày hơn; mùa mưa là lúc dễ xảy ra lấn chiếm đất rừng để trồng cây, nhất là ở rìa rừng giáp vườn.
Định kỳ, đơn vị giao khoán kiểm tra, nghiệm thu chất lượng bảo vệ rừng. Diện tích bị mất rừng, bị lấn chiếm mà người nhận khoán không phát hiện hoặc không báo có thể bị trừ tiền hoặc bị chấm dứt hợp đồng. Ngược lại, rừng được giữ tốt là cơ sở để tiếp tục nhận khoán các năm sau.
Khoản tiền khoán có ý nghĩa thế nào với người dân
Nguồn thu đều đặn. Khác với cà phê phụ thuộc mùa vụ và giá, tiền khoán rừng đến theo kỳ, giúp các hộ khó khăn có khoản tiền ổn định cho chi tiêu thiết yếu.
Gắn với đồng bào bản địa. Nhiều hộ nhận khoán là đồng bào dân tộc thiểu số sống gần rừng, quen đường rừng, hiểu rừng. Chính sách giúp họ có thu nhập từ chính kiến thức và gắn bó lâu đời với rừng.
Không đủ thay thế sinh kế. Với phần lớn hộ, tiền khoán chỉ là một phần thu nhập, không đủ để sống nếu không có vườn rẫy hay việc làm khác. Mức chi trả trên một đơn vị diện tích khác nhau nhiều giữa các lưu vực.
Tạo sự gắn kết cộng đồng. Ở những nơi giao khoán cho cộng đồng thôn, buôn, tiền khoán có thể dùng một phần cho các việc chung, và việc tuần tra chung củng cố quan hệ trong cộng đồng.
Rừng ven hồ, rừng ven suối và vườn giáp ranh
Ở vùng Quảng Khê và Đắk Glong cũ, vườn cà phê, tiêu nhiều nơi nằm sát rìa rừng. Ranh giới giữa đất vườn và đất rừng có khi không rõ trên thực địa, và qua nhiều năm, việc vườn lấn dần vào rừng đã xảy ra ở nhiều vùng Tây Nguyên. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm mất rừng đầu nguồn.
Với các yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc nông sản, như quy định chống phá rừng của thị trường châu Âu, vườn nằm trên đất rừng bị lấn chiếm có thể không bán được cho một số người mua. Giữ ranh giới vườn và rừng rõ ràng vì vậy không chỉ là chuyện pháp luật lâm nghiệp mà còn là chuyện đầu ra cho nông sản của chính gia đình.
Rừng ven suối, ven hồ là phần quan trọng nhất để giữ nước và giữ bờ. Dù không thuộc diện tích khoán, mỗi hộ có vườn giáp suối nên giữ lại dải cây ven suối, không phát trắng đến sát mép nước. Lợi ích đến ngay với vườn mình: suối còn nước lâu hơn, bờ không sạt vào đất vườn.
Những hiểu lầm hay gặp về tiền rừng
Một hiểu lầm phổ biến là có tiền khoán rừng thì rừng thuộc về mình, được tự ý khai thác gỗ, mở rộng vườn trong diện tích khoán. Thực tế, người nhận khoán chỉ nhận trách nhiệm bảo vệ và nhận tiền công cho việc đó; quyền đối với đất và rừng vẫn thuộc chủ rừng hoặc nhà nước theo quy định. Khai thác, chuyển đổi trái phép vẫn bị xử lý như mọi trường hợp khác.
Hiểu lầm thứ hai là tiền chi trả do nhà nước cho không. Nguồn tiền chủ yếu đến từ các cơ sở hưởng lợi như nhà máy thủy điện, nên khi nhà máy phát ít điện trong năm hạn, tổng tiền chi trả của lưu vực có thể giảm theo. Mức nhận mỗi năm vì thế có thể thay đổi, không cố định.
Hiểu lầm thứ ba là chỉ người nhận khoán mới có trách nhiệm với rừng. Thực ra, mất rừng ảnh hưởng tới nước tưới, nước sinh hoạt, lũ quét và cả việc bán nông sản của mọi gia đình trong vùng. Mỗi người dân đều có thể góp phần bằng cách không mua gỗ, động vật rừng trái phép và báo khi thấy dấu hiệu phá rừng.
Phòng cháy rừng mùa khô
Mùa khô ở cao nguyên nắng gió, thảm lá khô dày, nguy cơ cháy rừng cao. Những việc người dân sống gần rừng có thể làm:
- Không đốt thực bì, đốt rác, đốt cỏ trong vườn giáp rừng vào những ngày nắng gió; nếu phải đốt, làm đường băng cản lửa, có người canh và dập tắt hẳn trước khi rời đi.
- Không mang lửa, không hút thuốc khi vào rừng lấy măng, củi, đi tuần.
- Không dùng lửa để săn bắt, lấy mật ong trong rừng.
- Phát dọn cỏ khô quanh vườn, chòi rẫy giáp rừng để làm vùng đệm.
- Khi phát hiện cháy, báo ngay cho trưởng thôn, kiểm lâm hoặc ban quản lý rừng; chỉ tham gia chữa cháy khi có tổ chức, có dụng cụ, không tự lao vào đám cháy lớn.
Một đám cháy bắt đầu từ việc đốt dọn vườn có thể lan sang rừng và thiêu rụi cả diện tích mà nhiều hộ đang nhận khoán, làm mất luôn nguồn thu của họ. Phòng cháy vì thế là việc của mọi nhà, không riêng người giữ rừng.
Muốn nhận khoán bảo vệ rừng thì làm gì
Việc giao khoán do các chủ rừng là tổ chức thực hiện, như ban quản lý rừng phòng hộ, vườn quốc gia, công ty lâm nghiệp trên địa bàn. Ưu tiên thường dành cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ sống gần rừng, cộng đồng thôn, buôn. Diện tích có thể giao khoán phụ thuộc vào diện tích rừng của đơn vị và kế hoạch từng năm.
Người muốn nhận khoán nên hỏi trưởng thôn, cán bộ kiểm lâm địa bàn hoặc UBND xã Quảng Khê về đơn vị chủ rừng gần nhất và điều kiện nhận khoán. Sau khi Đắk Nông nhập vào Lâm Đồng, việc tổ chức các ban quản lý rừng và quỹ bảo vệ phát triển rừng có thể đã được sắp xếp lại, nên thông tin cũ có thể không còn đúng.
Khi ký hợp đồng khoán, hãy đọc kỹ diện tích, ranh giới, trách nhiệm, cách nghiệm thu, mức và kỳ chi trả, điều kiện chấm dứt hợp đồng. Giữ một bản hợp đồng và các biên bản nghiệm thu để đối chiếu khi cần.
Câu hỏi thường gặp
Chi trả dịch vụ môi trường rừng là gì?
Là chính sách theo đó các cơ sở hưởng lợi từ dịch vụ của rừng, như thủy điện, cấp nước sạch, du lịch, phải trả tiền cho người giữ rừng. Tiền được chuyển qua quỹ bảo vệ và phát triển rừng tới các chủ rừng và hộ nhận khoán.
Vì sao nhà máy thủy điện phải trả tiền cho rừng?
Vì rừng trên lưu vực giữ đất, giảm bồi lấp lòng hồ, giữ nước và điều hoà dòng chảy, giảm lũ đột ngột. Đó là những dịch vụ trực tiếp giúp nhà máy vận hành ổn định và lâu dài.
Mỗi hộ nhận khoán được bao nhiêu tiền?
Bài này không nêu số cụ thể vì mức chi trả thay đổi theo năm, theo lưu vực, loại rừng và diện tích nhận khoán. Hỏi đơn vị giao khoán hoặc UBND xã để biết mức hiện hành.
Người nhận khoán bảo vệ rừng phải làm gì?
Tuần tra định kỳ, phát hiện và báo các vụ chặt phá, lấn chiếm, săn bắt, cháy rừng; tham gia chữa cháy khi được huy động; không tự ý khai thác hay đốt nương trong diện tích khoán. Kết quả được nghiệm thu định kỳ.
Vườn cà phê lấn vào đất rừng có ảnh hưởng gì?
Vi phạm pháp luật lâm nghiệp, có thể bị xử lý, và nông sản từ đất rừng bị lấn chiếm có thể không bán được cho người mua yêu cầu chứng minh không phá rừng. Giữ ranh giới vườn và rừng rõ ràng là có lợi cho chính gia đình.