Trước năm 1975, vùng đất ngày nay là xã Quảng Khê chưa có tên ấy. Đây là vùng đồi núi và rừng thuộc địa bàn cư trú của đồng bào bản địa, chủ yếu là người M’Nông và người Mạ, sống thành các bon nhỏ ven suối, làm rẫy luân canh. Về hành chính, từ cuối thập niên 1950 tới 1975, vùng này thuộc tỉnh Quảng Đức, tỉnh lỵ đặt ở Gia Nghĩa.
Tài liệu viết riêng về đúng phần đất Quảng Khê trong giai đoạn này rất ít. Phần lớn những gì biết được là lịch sử chung của vùng cao nguyên phía nam Tây Nguyên, cộng với lời kể của người cao tuổi. Bài này kể những điều đã có cơ sở, nói rõ chỗ nào là bối cảnh chung của cả vùng, và tránh gán cho Quảng Khê những sự kiện không chắc xảy ra ở đây.
Đất của các bon làng ven suối
Người M’Nông và người Mạ là hai cộng đồng bản địa lâu đời của vùng cao nguyên giữa Đắk Lắk và Lâm Đồng ngày nay. Họ sống thành bon, mỗi bon thường gồm một số gia đình có quan hệ họ hàng, dựng nhà gần nguồn nước. Đất rẫy quanh bon được canh tác luân phiên: phát một khoảnh rừng, đốt, gieo lúa rẫy, bắp, bầu bí, sau vài vụ thì bỏ cho rừng mọc lại và chuyển sang khoảnh khác.
Cách làm này cần nhiều đất, nên ranh giới đất của mỗi bon trải rộng và được xác định bằng suối, đồi, cây lớn theo hiểu biết chung của cộng đồng chứ không bằng giấy tờ. Rừng không chỉ là nơi làm rẫy mà còn là nơi săn bắt, hái lượm, lấy măng, lấy mật, lấy gỗ dựng nhà. Đời sống, lễ hội, luật tục đều gắn với rừng và nước.
Không có tài liệu nào cho phép kể đích danh những bon nào đã sống ở đúng vùng Quảng Khê hay Đắk Plao trước 1975, và vị trí của họ có thể đã thay đổi nhiều lần do chiến tranh, dời làng. Cái tên Đắk Plao, theo lối đặt tên của đồng bào bản địa, là dấu vết cho thấy nơi đây có một dòng suối và có người sống quanh nó từ lâu. Phần văn hoá đồng bào hôm nay có mục riêng của trang.
Thời Pháp thuộc: cao nguyên trong tầm tay người ngoài
Đầu thế kỷ hai mươi, chính quyền thuộc địa Pháp mở rộng kiểm soát lên cao nguyên, lập đồn, mở đường, thu thuế, bắt phu. Sự xâm nhập ấy vấp phải phản kháng của nhiều cộng đồng bản địa. Ở vùng đất Đắk Nông ngày nay, cuộc nổi dậy của người M’Nông do N’Trang Lơng lãnh đạo, kéo dài nhiều năm trong khoảng thập niên 1910 tới giữa thập niên 1930, là sự kiện được ghi nhận rộng rãi nhất.
Cuộc nổi dậy ấy diễn ra chủ yếu ở vùng phía tây và tây nam Đắk Nông, gần biên giới, chứ không có cơ sở để nói nó diễn ra ở Quảng Khê. Nhưng nó là một phần lịch sử chung của người M’Nông trong vùng, và tên N’Trang Lơng ngày nay được đặt cho đường phố, trường học ở nhiều nơi trong tỉnh cũ.
Trong giai đoạn này, các con đường xuyên rừng nối các đồn bắt đầu xuất hiện. Một số tuyến đường sau này được mở rộng thành quốc lộ. Việc quốc lộ 28 ngày nay đi theo đúng lộ trình cũ nào thì chưa có tài liệu chắc để khẳng định từng đoạn, nên chỉ nên nói chung rằng mạng đường cao nguyên được hình thành dần từ thời kỳ này.
Tỉnh Quảng Đức và tỉnh lỵ Gia Nghĩa
Năm 1959, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập tỉnh Quảng Đức trên phần đất phía nam của vùng cao nguyên Đắk Lắk, giáp biên giới với Campuchia. Tỉnh lỵ đặt ở Gia Nghĩa. Vùng Đắk Glong ngày nay, trong đó có Quảng Khê, nằm trong phạm vi tỉnh này. Quảng Đức là một tỉnh rừng núi, dân cư thưa, phần lớn là đồng bào bản địa, cùng một số khu dinh điền và đồn bót dọc đường.
Trong chiến tranh, vùng rừng núi quanh Gia Nghĩa là địa bàn hoạt động của cả hai phía. Nhiều bon làng phải dời chỗ, có nơi bị dồn vào các khu tập trung, có nơi chạy sâu vào rừng. Những biến động ấy làm cho bản đồ dân cư của vùng trước 1975 khác nhiều so với hôm nay, và cũng là lý do rất khó xác định ai đã sống ở đâu.
Sau năm 1975, tỉnh Quảng Đức không còn, phần đất được nhập vào tỉnh Đắk Lắk. Gần ba mươi năm sau, khi tỉnh Đắk Nông được lập năm 2004 với tỉnh lỵ ở Gia Nghĩa, nhiều người nhận ra phạm vi tỉnh mới khá gần với phạm vi tỉnh Quảng Đức xưa. Sự trùng hợp ấy phản ánh một thực tế địa lý: Gia Nghĩa vốn là điểm trung tâm tự nhiên của vùng cao nguyên phía nam này.
Những năm đầu sau 1975
Sau 1975, vùng Gia Nghĩa và vùng đồi núi phía đông của nó bước vào một giai đoạn tổ chức lại toàn diện. Một số bon được vận động về định cư gần đường, gần nguồn nước, làm ruộng nước và trồng cây lâu năm thay cho rẫy luân canh. Các lâm trường quốc doanh được lập để khai thác và quản lý rừng trong vùng, kéo theo công nhân từ nơi khác đến. Những khu kinh tế mới bắt đầu đón người Kinh từ các tỉnh đồng bằng và miền Trung lên khai hoang.
Thông tin chi tiết về những đơn vị cụ thể đã hoạt động trên đất Quảng Khê, Đắk Plao trong giai đoạn này, như tên lâm trường, năm thành lập thôn, số hộ được đưa lên, cần tra trong tài liệu địa phương. Điều chắc chắn là trong khoảng hai thập niên sau 1975, vùng đất chuyển từ chỗ gần như chỉ có đồng bào bản địa sang chỗ có nhiều cộng đồng sống xen, và rừng bắt đầu nhường đất cho cây công nghiệp.
Các đợt dân đến lập nghiệp từ đó tới nay được kể kỹ hơn ở một bài khác trong mục này. Ở đây chỉ cần ghi nhận rằng năm 1975 là ranh giới giữa hai giai đoạn rất khác nhau của vùng đất: trước đó là đất bon làng và chiến tranh, sau đó là đất định cư, khai hoang và cây trồng mới.
Những gì đã biết chắc và những gì còn mờ
Lịch sử địa phương trước 1975 của một xã vùng cao thường có nhiều khoảng trống. Bảng dưới tách rõ để người đọc biết nên tin tới đâu:
| Nội dung | Mức chắc chắn | Ghi chú |
|---|---|---|
| Vùng đất của đồng bào M’Nông, Mạ | Chắc | Phù hợp với tài liệu dân tộc học và tên địa danh bản địa |
| Thuộc tỉnh Quảng Đức 1959–1975, lỵ sở Gia Nghĩa | Chắc | Mốc hành chính có văn bản |
| Cuộc nổi dậy của N’Trang Lơng | Chắc về sự kiện | Không có cơ sở gán cho riêng vùng Quảng Khê |
| Tên các bon cụ thể ở Quảng Khê trước 1975 | Chưa rõ | Cần lời kể có ghi chép của người cao tuổi |
| Thời điểm có dân Kinh đến đầu tiên | Chưa rõ | Phần lớn định cư diễn ra sau 1975 |
Những ô “chưa rõ” là chỗ mà người trong vùng có thể góp phần làm rõ, bằng cách ghi lại lời kể của các già làng, các gia đình sống lâu năm.
Dấu vết của thời trước còn thấy ở đâu hôm nay
Trong tên suối, tên đồi. Nhiều con suối, ngọn đồi trong vùng vẫn được đồng bào gọi bằng tên cũ, dù trên giấy tờ không ghi. Hỏi một người lớn tuổi trong bon về tên một dòng suối, bạn thường sẽ nghe một cái tên khác hẳn với tên thôn hay tên đường gần đó.
Trong cách chia đất của bon. Ở những bon còn giữ nếp cũ, ký ức về đất rẫy của từng dòng họ vẫn còn, dù đất đã được cấp giấy theo cách khác. Đây là một phần lý do khiến chuyện đất đai ở vùng cao luôn phức tạp: hai hệ thống hiểu biết về quyền với đất cùng tồn tại.
Trong những cây lớn và khoảnh rừng sót lại. Một số cây cổ thụ, khoảnh rừng gần bon được giữ lại qua nhiều đời vì gắn với nguồn nước hay với tập quán của cộng đồng. Chúng là chứng tích sống của thời rừng còn phủ kín các sườn đồi.
Trong đồ vật gia đình. Ché, cồng chiêng, gùi, đồ dệt được truyền qua nhiều thế hệ trong các gia đình bản địa là chứng tích vật chất của thời trước. Phần văn hoá này được viết kỹ hơn ở mục đồng bào và văn hoá của trang.
Tìm hiểu tiếp: hỏi ai, đọc gì
Nếu bạn muốn đi sâu vào lịch sử vùng đất trước 1975, nguồn quý nhất vẫn là người. Các già làng người M’Nông, người Mạ còn nhớ tên suối, tên đồi, tên bon cũ, những lần dời làng, những mùa đói, những năm có giặc. Khi ghi lại, nên ghi cả tiếng gốc và cách phiên âm, kèm tên người kể, năm sinh, nơi ở, ngày ghi. Một ghi chép có nguồn như vậy giá trị hơn nhiều so với một câu chuyện lưu truyền không rõ ai kể.
Về tài liệu, có thể tìm các công trình dân tộc học về người M’Nông, người Mạ; các sách địa chí Đắk Lắk, Đắk Nông; các ấn phẩm lịch sử địa phương do tỉnh, huyện cũ xuất bản; và tư liệu lưu trữ thời Pháp, thời Việt Nam Cộng hòa tại các trung tâm lưu trữ quốc gia. Đọc các nguồn này cần thận trọng, vì mỗi nguồn viết theo góc nhìn của người viết và thời của họ.
Cũng nên đọc với con mắt phê phán những câu chuyện lan truyền trên mạng xã hội về “nguồn gốc” vùng đất. Nhiều bài viết chép lại của nhau, thêm thắt chi tiết cho hấp dẫn, gán một truyền thuyết của nơi khác cho Quảng Khê, hoặc đưa ra năm tháng không có nguồn. Một nguyên tắc đơn giản: chi tiết càng cụ thể (tên người, năm, số hộ) mà không ghi nguồn thì càng cần dè dặt.
Trường học trong xã có thể biến việc này thành dự án cho học sinh: mỗi lớp phỏng vấn một vài người cao tuổi, chép lại, chụp ảnh nơi được kể, rồi tập hợp thành một tập ký ức của xã. Đó là cách để những lớp lịch sử chưa từng được viết ra không mất theo thế hệ.
Câu hỏi thường gặp
Trước 1975 Quảng Khê thuộc tỉnh nào?
Từ năm 1959 tới 1975, vùng đất ngày nay là Quảng Khê thuộc tỉnh Quảng Đức, tỉnh lỵ đặt ở Gia Nghĩa. Trước đó vùng này thuộc phạm vi cao nguyên Đắk Lắk. Sau 1975 tỉnh Quảng Đức nhập vào Đắk Lắk.
Ai là cư dân đầu tiên của vùng Quảng Khê?
Theo hiểu biết chung về vùng cao nguyên này, cư dân lâu đời là đồng bào M’Nông và Mạ, sống thành các bon ven suối. Tên cụ thể của các bon ở đúng phần đất Quảng Khê trước 1975 thì chưa có tài liệu chắc chắn.
Tỉnh Quảng Đức có giống tỉnh Đắk Nông không?
Hai tỉnh có phạm vi khá gần nhau và cùng đặt tỉnh lỵ ở Gia Nghĩa, nhưng không trùng khớp hoàn toàn về địa giới. Quảng Đức tồn tại 1959–1975, còn Đắk Nông tồn tại 2004–2025.
N’Trang Lơng có liên quan đến Quảng Khê không?
N’Trang Lơng lãnh đạo cuộc nổi dậy của người M’Nông chống Pháp đầu thế kỷ hai mươi, chủ yếu ở vùng phía tây và tây nam Đắk Nông. Không có cơ sở để nói cuộc nổi dậy diễn ra tại Quảng Khê, nhưng đó là lịch sử chung của người M’Nông trong vùng.
Muốn ghi lại lịch sử bon làng thì nên làm thế nào?
Nên phỏng vấn người cao tuổi, ghi cả tiếng gốc và phiên âm, kèm tên người kể, nơi ở, ngày ghi. Chụp ảnh nơi được kể, lưu bản ghi ở ít nhất hai nơi. Có thể phối hợp với trường học hoặc chính quyền xã để tập hợp lại.