QuangKhe.comQuảng Khê
Lịch sử và tên gọi

Người Quảng Khê từ đâu đến: các đợt dân lập nghiệp sau 1975 và dấu vết quê gốc

Quảng Khê là đất của đồng bào bản địa và của nhiều lớp người đến sau: kinh tế mới, công nhân lâm trường, dân tự do từ miền Bắc, miền Trung. Mỗi lớp để lại gì.

A family seen from behind carrying coffee seedlings up a red-earth path toward a newly cleared hillside garden, a simple wooden house in the background, soft morning haze

Dân cư xã Quảng Khê hôm nay là kết quả của nhiều lớp người đến nối nhau. Lớp lâu đời nhất là đồng bào bản địa M’Nông và Mạ. Sau năm 1975 có người Kinh lên theo các chương trình kinh tế mới, công nhân các đơn vị lâm nghiệp, rồi từ thập niên 1990 trở đi là làn sóng lớn người đến tự do từ các tỉnh miền Trung, miền Bắc, trong đó có nhiều đồng bào Dao, H’Mông, Tày, Nùng từ vùng núi phía Bắc.

Không có con số chính thức nào chia dân Quảng Khê theo quê gốc, và trang này không đoán tỷ lệ. Nhưng chỉ cần nghe giọng nói ở chợ, nhìn kiểu nhà ở các thôn, xem lịch cúng giỗ, lễ tết của từng nhà là thấy rõ một vùng đất gom người từ khắp nơi. Bài này kể lại các lớp người đã đến, vì sao họ chọn vùng đất này, họ mang theo những gì, và vì sao hiểu chuyện ấy có ích cho người mới đến hôm nay.

Lớp người đầu tiên: chủ nhân của rừng và suối

Trước mọi làn sóng di dân, vùng đất đã có chủ. Đồng bào M’Nông và Mạ sống thành bon ven suối, làm rẫy, săn bắt, hái lượm, có luật tục, lễ hội và tri thức riêng về rừng. Những bon ấy trải qua chiến tranh, dời làng, rồi sau 1975 nhiều nơi được vận động định canh định cư gần đường, gần nguồn nước. Một phần đất rẫy truyền thống của họ về sau thành đất của những người đến sau, qua giao đất, chuyển nhượng, có khi qua tranh chấp.

Khi kể chuyện các đợt dân đến lập nghiệp, rất dễ quên lớp người này, như thể vùng đất trước đó là đất trống. Thực ra mọi người đến sau đều đã sống trên đất của những bon làng có trước. Hiểu điều đó là nền tảng để sống tử tế với láng giềng bản địa, tôn trọng những khoảnh rừng, những dòng suối có ý nghĩa với cộng đồng họ, và hiểu vì sao chuyện đất đai ở vùng cao lại nhạy cảm đến thế.

Kinh tế mới và lâm nghiệp: những năm sau 1975

Trong một thời gian dài sau 1975, Nhà nước tổ chức đưa dân từ các vùng đất chật người đông ở đồng bằng Bắc Bộ, miền Trung lên Tây Nguyên khai hoang, gọi chung là đi kinh tế mới. Người đi được cấp đất, có nơi được hỗ trợ nhà tạm, lương thực những tháng đầu. Vùng đất quanh Gia Nghĩa và phía đông của nó là một trong những nơi đón các đợt dân này.

Cùng thời gian ấy, các đơn vị lâm nghiệp quốc doanh hoạt động mạnh trong vùng, khai thác gỗ và quản lý rừng. Công nhân lâm trường, nhiều người là thanh niên từ nơi khác đến, lập gia đình và ở lại. Khi khai thác gỗ thu hẹp, một phần đất lâm nghiệp được chuyển sang trồng cây công nghiệp, giao cho hộ gia đình, và những công nhân cũ trở thành nông dân trồng cà phê.

Đây là lớp người Kinh đầu tiên định cư lâu dài ở vùng Quảng Khê. Những thôn được lập trong giai đoạn này thường nằm gần đường, có quy hoạch thẳng hàng hơn các thôn lập sau, và nhiều gia đình nay đã sang thế hệ thứ ba sinh ra tại chỗ.

Cuộc sống những năm đầu rất vất vả: đất mới khai hoang chưa cho thu hoạch, sốt rét còn phổ biến, đường sá thiếu, xa chợ, xa trạm xá. Không ít gia đình bỏ về quê; những người bám trụ được thường là nhờ bền bỉ với cây lâu năm và nhờ đùm bọc lẫn nhau theo nhóm đồng hương.

Làn sóng tự do từ thập niên 1990: cà phê kéo người lên cao nguyên

Từ cuối thập niên 1980 và mạnh nhất trong thập niên 1990, cà phê trở thành cây làm giàu ở Tây Nguyên. Tin về đất rộng, đất đỏ, trồng cà phê vài năm có thể xây được nhà lan về các vùng quê nghèo đất. Người ta tự tìm đường lên, không theo chương trình nào: một người đi trước, thấy được thì về gọi anh em, họ hàng, hàng xóm lên theo. Cả xóm, cả dòng họ chuyển từ một xã ở miền Trung hay miền Bắc vào cùng một thôn ở cao nguyên là chuyện không hiếm.

Vùng Đắk Glong, với nhiều đất đồi và rừng còn rộng, là một trong những điểm đến của làn sóng này. Nhiều người mua lại đất của người đến trước hay của đồng bào bản địa, có người khai phá đất rừng. Quy mô và tốc độ của làn sóng tự do vượt xa khả năng quy hoạch của chính quyền, để lại nhiều hệ quả về đất đai, rừng và hạ tầng mà các thập niên sau phải giải quyết.

Những người đến trong giai đoạn này hiện là lực lượng nông dân chủ chốt của Quảng Khê. Giọng nói của họ, từ giọng Nghệ Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi tới giọng các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, là âm thanh quen thuộc ở chợ và ở các đại lý cà phê. Còn quê gốc cụ thể của từng thôn thì phải hỏi chính người trong thôn, vì mỗi thôn có một lịch sử riêng.

Đồng bào từ vùng núi phía Bắc

Một phần đáng kể của làn sóng tự do là đồng bào các dân tộc từ các tỉnh miền núi phía Bắc: Dao, H’Mông, Tày, Nùng và một số dân tộc khác. Họ đến Đắk Nông nói chung và vùng Đắk Glong nói riêng chủ yếu từ thập niên 1990 trở đi, nhiều nhóm đi theo cả dòng họ, cả bản. Họ thường chọn vùng đất cao, xa, gần rừng, nơi có điều kiện gần với quê cũ.

Những cộng đồng này mang theo kiểu nhà, trang phục, lễ tết, tiếng nói và cách làm nương riêng. Ở một số thôn trong vùng Đắk Glong cũ, có thể nghe tiếng Dao, tiếng H’Mông nhiều hơn tiếng Kinh. Họ cũng là những cộng đồng chịu nhiều khó khăn nhất trong việc ổn định đất ở, đất sản xuất, giấy tờ và đưa con đi học, vì nhiều nhóm đến sống ở vùng đất rừng chưa được quy hoạch dân cư.

Thôn nào trong xã Quảng Khê mới có đồng bào phía Bắc sinh sống, đông hay ít, là chuyện cần hỏi chính quyền xã hoặc người trong vùng, không nên suy đoán. Văn hoá của các cộng đồng này được viết kỹ hơn trong mục đồng bào và văn hoá của trang.

Các lớp người đến Quảng Khê: tóm tắt

Bảng dưới gom các lớp người theo thời gian. Mốc là khoảng thời gian chứ không phải ngày tháng, và không kèm tỷ lệ dân số vì không có nguồn chính thức theo xã:

Lớp ngườiThời gian chủ yếuHình thức đếnDấu vết dễ thấy hôm nay
Đồng bào M’Nông, MạTừ rất lâuCư dân bản địaBon làng, tên suối, lễ hội, cồng chiêng
Người Kinh đi kinh tế mớiSau 1975 tới thập niên 1980Theo chương trình của Nhà nướcThôn lập theo quy hoạch, gần đường
Công nhân lâm nghiệpSau 1975 tới thập niên 1990Theo đơn vị quốc doanhGia đình gốc công nhân chuyển sang làm vườn
Người Kinh đến tự doThập niên 1990 – 2000Tự tìm đến, theo họ hàng, đồng hươngThôn mang giọng nói một vùng quê
Đồng bào phía BắcThập niên 1990 – 2000Phần lớn tự do, theo dòng họKiểu nhà, trang phục, lễ tết riêng
Người đến làm việc, buôn bánTừ 2005, khi có huyệnCông tác, mở tiệmDân phố quanh khu trung tâm

Bảng chỉ là khung đơn giản. Thực tế các lớp người đan xen nhau: con cháu người đi kinh tế mới lấy vợ lấy chồng với người đến tự do, người bản địa đi học rồi về làm cán bộ, người phía Bắc mở tiệm ở chợ. Một gia đình có thể mang dấu vết của hai ba lớp trong bảng.

Quê gốc còn hiện ra ở đâu trong đời sống hằng ngày

Dấu vết quê gốc rõ nhất là ở bữa ăn. Nhà gốc miền Trung giữ nước mắm, ớt, món kho mặn; nhà gốc Bắc Bộ giữ canh rau, dưa cà, món ngày tết; nhà đồng bào phía Bắc có món thịt treo gác bếp, rượu men lá; nhà đồng bào bản địa có cơm lam, canh thụt. Một bữa cỗ cưới ở Quảng Khê có khi đủ các vùng miền trên cùng một mâm.

Dấu vết thứ hai là lịch cúng giỗ và lễ tết. Nhiều gia đình vẫn về quê giỗ tổ, hoặc lập nhà thờ họ nhỏ ngay tại vùng đất mới. Hội đồng hương theo tỉnh, theo huyện quê gốc hoạt động khá đều, là chỗ dựa khi có việc hiếu hỷ, ốm đau. Những ai mới đến Quảng Khê làm ăn, tìm được hội đồng hương của mình thường thấy bớt lạc lõng hơn hẳn.

Dấu vết thứ ba là trong cách làm vườn. Người từ vùng trồng lúa quen chăm chút, làm cỏ kỹ; người từ vùng núi quen làm nương trên dốc; người bản địa giữ những kiến thức về rừng mà người đến sau không có. Sự pha trộn ấy làm cho kinh nghiệm canh tác ở Quảng Khê đa dạng, và người chịu học hỏi từ láng giềng thường làm vườn tốt hơn người chỉ làm theo thói quen quê cũ.

Với người mới đến hôm nay: hiểu lịch sử để sống cùng

Người đến Quảng Khê bây giờ phần lớn đến vì công việc, vì mua đất làm vườn, hay theo gia đình. Họ bước vào một cộng đồng đã có nhiều lớp, mỗi lớp có trí nhớ riêng về vùng đất. Người bản địa nhớ thời rừng còn kín; người đi kinh tế mới nhớ thời đói khổ khai hoang; người đến tự do nhớ thời mua đất, phá rừng, trồng cà phê; người đến sau 2005 nhớ thời phố huyện mới dựng.

Hiểu những lớp trí nhớ ấy giúp tránh nhiều va chạm. Khi mua đất, hỏi rõ lịch sử mảnh đất: ai khai phá, đã qua mấy đời chủ, có từng là đất rẫy của bon nào, có giấy tờ gì. Khi làm hàng rào, mở lối đi, khoan giếng, nói chuyện với láng giềng trước. Khi tham dự lễ của đồng bào, hỏi điều gì nên và không nên làm.

Cũng nên nhớ rằng ai cũng từng là người mới ở đây. Những gia đình đang được coi là “dân gốc” của Quảng Khê phần lớn mới đến từ một hai thế hệ trước. Sự cởi mở với người đến sau, vì thế, là một nét quen thuộc của vùng đất này.

Vùng đất của người đến sau là vùng đất mà sự gắn kết không đến từ chung một gốc làng, mà đến từ chung một mùa vụ, một con đường, một ngôi trường của con cái. Những ai sống lâu ở Quảng Khê đều nói điều làm họ ở lại không phải là đất tốt hay cà phê được giá, mà là láng giềng.

Câu hỏi thường gặp

Người dân Quảng Khê chủ yếu quê ở đâu?

Dân Quảng Khê gồm đồng bào bản địa M’Nông, Mạ và nhiều lớp người đến sau từ miền Trung, miền Bắc, trong đó có đồng bào các dân tộc phía Bắc. Không có số liệu chính thức chia theo quê gốc, nên không thể nói chính xác vùng nào chiếm bao nhiêu.

Vì sao nhiều người miền Bắc, miền Trung lên Đắk Nông lập nghiệp?

Chủ yếu vì đất. Quê cũ chật người, ít đất, còn Tây Nguyên có đất đỏ rộng, hợp cà phê và cây công nghiệp. Một số đi theo chương trình kinh tế mới sau 1975, phần đông hơn tự tìm đến từ thập niên 1990.

Đồng bào Dao, H’Mông ở Đắk Glong đến từ khi nào?

Phần lớn đến từ thập niên 1990 trở đi, từ các tỉnh miền núi phía Bắc, nhiều nhóm đi theo cả dòng họ. Thôn nào trong xã Quảng Khê có cộng đồng này thì nên hỏi chính quyền xã hoặc người trong vùng.

Ở Quảng Khê có hội đồng hương không?

Có nhiều hội đồng hương theo tỉnh, theo huyện quê gốc, hoạt động tự nguyện, thường gặp mặt dịp tết và hỗ trợ nhau khi có việc. Hỏi người cùng quê ở chợ hay ở các đại lý nông sản là cách nhanh nhất để tìm.

Mua đất ở Quảng Khê cần hỏi gì về lịch sử mảnh đất?

Nên hỏi ai khai phá, đã qua bao nhiêu chủ, có giấy tờ gì, có nằm trong đất rừng hay quy hoạch nào không, có tranh chấp với ai không. Kiểm tra thông tin tại xã trước khi giao tiền là việc không nên bỏ qua.

Người bản địa ở Quảng Khê sống tập trung ở đâu?

Đồng bào bản địa sống thành các bon trong xã, một số nằm ở vùng Đắk Plao cũ. Tên và vị trí từng bon nên hỏi tại xã; trang không liệt kê những gì chưa kiểm được.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.