Người Mạ là một trong những cư dân bản địa lâu đời của vùng thượng nguồn sông Đồng Nai, sống rải từ vùng Bảo Lộc, Di Linh của Lâm Đồng cũ sang vùng Đắk Glong, Gia Nghĩa của Đắk Nông cũ. Ở xã Quảng Khê hiện nay, người Mạ cùng người M'Nông là lớp cư dân có mặt trước nhất, sống trong các bon ven rừng, ven suối, nói tiếng thuộc nhóm Môn – Khmer và nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm trên khung dệt đeo lưng.
Người Mạ ít được nhắc tới hơn người M'Nông khi nói về Đắk Nông, nên nhiều người qua lại quốc lộ 28 không biết rằng con đường này chạy qua đất cũ của người Mạ. Bài này giới thiệu những điều cơ bản đáng biết: người Mạ sống ở đâu trong vùng, tiếng nói, bon làng và nhà ở, nghề dệt, và đời sống của họ đã thay đổi thế nào khi rẫy lúa nhường chỗ cho vườn cà phê.
Người Mạ sống ở đâu trong vùng
Tên gọi Mạ được dùng trong danh mục các dân tộc Việt Nam. Cộng đồng này cư trú chủ yếu ở vùng cao nguyên phía nam Tây Nguyên, nơi nay phần lớn thuộc tỉnh Lâm Đồng mới: các vùng quanh Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh, Đạ Huoai của Lâm Đồng cũ, và vùng Đắk Glong, Gia Nghĩa của Đắk Nông cũ. Quốc lộ 28 nối Gia Nghĩa với Di Linh vì thế chạy dọc một vùng cư trú khá liền mạch của người Mạ.
Theo cách người Mạ tự kể, họ có nhiều nhóm địa phương gắn với nơi ở, như nhóm sống ven sông, nhóm sống trên vùng đồi cao. Những tên nhóm này người ngoài thường không phân biệt được, và cũng không cần phải dùng; điều nên nhớ là người Mạ ở Quảng Khê có quan hệ họ hàng, thông gia với người Mạ bên Di Linh, Bảo Lâm, đi lại thăm nhau qua đường đèo từ rất lâu trước khi có ranh giới tỉnh.
Ở vùng Đắk Glong cũ, các bon người Mạ và bon người M'Nông có chỗ đan xen, có chỗ tách riêng. Muốn biết một bon cụ thể là của ai, hỏi người trong bon là chắc nhất; đừng dựa vào trang phục hay tên người, vì nhiều gia đình đã có hai dòng máu.
Tiếng Mạ và cách gọi tên người
Tiếng Mạ thuộc ngữ hệ Môn – Khmer, gần với tiếng Cơ Ho, tiếng M'Nông, tiếng Xtiêng ở mức người nói các tiếng ấy nghe được một phần từ vựng của nhau. Trước đây tiếng Mạ chủ yếu truyền miệng; về sau có hệ chữ viết dùng chữ cái La-tinh do các nhà nghiên cứu và người trong cộng đồng xây dựng, dùng trong một số tài liệu và lớp học song ngữ.
Tên người Mạ mà người ngoài hay nghe thấy thường có chữ K' đứng trước ở nam giới hoặc Ka đứng trước ở nữ giới trong cách ghi tiếng Việt, ví dụ dạng K'Điểu, Ka Hoa. Cách ghi này khác nhau theo từng nơi và từng người, nên khi điền giấy tờ cho người Mạ, hãy chép đúng như trên căn cước, kể cả dấu nháy và chữ hoa, đừng tự sửa cho gọn.
Trong gia đình, người lớn tuổi vẫn nói tiếng Mạ là chính. Trẻ em đi học nói tiếng phổ thông ngày càng giỏi, và cũng ngày càng ít dùng tiếng mẹ đẻ ngoài bếp nhà. Đây là chuyện chung của nhiều tiếng bản địa Tây Nguyên, và cũng là nỗi lo của chính các già làng.
Bon làng và nhà ở: từ nhà sàn dài tới nhà xây
Bon truyền thống của người Mạ thường đặt gần nguồn nước, trên đất cao ráo ven rừng, nhà quây quần thành cụm. Ngày trước, nhà của người Mạ là nhà sàn dài làm bằng gỗ, tre, nứa, mái lợp tranh, nhiều thế hệ ở chung, mỗi gia đình nhỏ có một bếp riêng dọc theo chiều dài ngôi nhà. Cầu thang lên nhà, gian để ché rượu, bộ chiêng và chỗ tiếp khách là những phần quan trọng.
Hôm nay, nhà dài gần như không còn được dựng mới. Các gia đình tách ra ở nhà riêng, nhiều nhà xây tường gạch, lợp tôn theo mẫu nhà ở nông thôn khắp nơi. Nhưng bếp lửa vẫn được giữ ở nhiều nhà, có khi là một gian bếp gỗ riêng phía sau nhà xây, vì đó là nơi nấu cơm, sưởi ấm mùa mưa lạnh, hun măng, gác ngô giống.
Khi đến một bon người Mạ, điều người khách dễ thấy là không gian chung: khoảng sân giữa các nhà, nhà văn hoá của bon, giếng hay nguồn nước chung. Những không gian ấy là nơi tổ chức lễ, họp bon, phơi cà phê mùa thu hoạch. Đi qua đó, hãy đi chậm và chào người đang ngồi.
Nghề dệt thổ cẩm của phụ nữ Mạ
Khung dệt đeo lưng. Phụ nữ Mạ dệt trên loại khung dệt mà người dệt ngồi duỗi chân, một đầu khung buộc vào cột nhà, đầu kia vòng qua lưng người dệt, kéo căng sợi bằng chính sức lưng. Khung đơn giản, tháo ra cuộn lại được, cho phép dệt ngay trong nhà, ngoài hiên lúc rảnh việc rẫy.
Màu và hoa văn. Vải Mạ thường có nền tối, điểm các dải hoa văn đỏ, trắng, vàng chạy ngang, hoạ tiết hình học như hình thoi, răng cưa, đường gấp khúc gợi tới núi, sông, hoa lá, dấu chân thú. Trước đây sợi bông tự trồng, tự kéo, nhuộm bằng vỏ cây, lá rừng; nay phần lớn dùng chỉ công nghiệp mua ở chợ.
Sản phẩm. Từ khung dệt ra những tấm váy quấn, khố, áo, khăn, tấm đắp và những dải vải dùng làm dây đeo gùi, dây địu con. Một tấm vải lớn có thể mất nhiều tuần dệt xen kẽ với việc nhà, việc rẫy.
Người giữ nghề. Người dệt giỏi hiện nay phần lớn là phụ nữ trung niên trở lên. Ở một số bon có nhóm, tổ dệt được hỗ trợ để giữ nghề và dạy cho con gái trong làng. Mua một tấm vải trực tiếp từ người dệt, trả đúng công họ đề nghị, là cách thiết thực nhất để nghề còn người theo.
Gia đình, già làng và luật tục
Như nhiều cộng đồng bản địa Tây Nguyên, đời sống của bon người Mạ xưa được điều hành bằng luật tục truyền miệng và vai trò của già làng, những người lớn tuổi được kính trọng vì hiểu biết, công bằng và khả năng hoà giải. Già làng không phải chức vụ hành chính nhưng tiếng nói của họ trong chuyện đất đai, cưới hỏi, xích mích giữa các gia đình vẫn rất có trọng lượng.
Chuyện cưới hỏi của người Mạ có những bước riêng về dạm hỏi, thách cưới, nơi ở sau cưới, và cách làm khác nhau giữa các nhóm và các thời kỳ; bài này không đi vào chi tiết vì người ngoài dễ kể sai. Ai cần tìm hiểu kỹ, ví dụ để viết, để làm phim, nên ngồi nghe trực tiếp người trong bon hoặc tìm các công trình nghiên cứu dân tộc học đã công bố.
Ngày nay, chính quyền xã, trưởng thôn và già làng cùng làm việc với nhau. Nhiều chương trình như vận động trẻ đi học, giữ rừng, giải quyết tranh chấp đất rẫy đều đi qua tiếng nói của già làng trước khi tới từng nhà. Người đến làm việc với một bon, dù là dự án, doanh nghiệp hay đoàn thiện nguyện, nên gặp già làng sớm.
Đời sống hôm nay: từ rẫy lúa sang vườn cà phê
Phần lớn gia đình người Mạ ở Quảng Khê nay sống bằng cà phê, hồ tiêu, có nhà trồng thêm sầu riêng, bơ, cây ăn trái. Rẫy lúa, rẫy bắp truyền thống thu hẹp nhiều; lúa rẫy chỉ còn ở một số hộ trồng để ăn, để làm cơm lam, làm rượu trong dịp lễ.
Sự chuyển đổi ấy mang lại thu nhập tiền mặt nhưng cũng kéo theo những rủi ro: phụ thuộc vào giá nông sản, vay vốn vật tư, có khi phải bán bớt đất. Thanh niên người Mạ đi học xa, đi làm công nhân ở các tỉnh phía nam ngày càng nhiều. Những ngày lễ cuối năm là lúc con cháu đi xa trở về, bon làng đông đủ trở lại.
Nhiều thứ thuộc về văn hoá Mạ, như tiếng chiêng, tiếng nói, nghề dệt, truyện kể, hiện sống được là nhờ một số người lớn tuổi kiên trì và một số người trẻ chịu học lại. Người ngoài muốn góp tay không cần làm gì lớn: tôn trọng, mua hàng thủ công đúng giá người làm đặt ra, kể về người Mạ cho đúng tên.
Chiêng, ché rượu và những ngày vui của bon
Như người M'Nông láng giềng, người Mạ coi bộ chiêng và ché rượu là tài sản quý của gia đình, dòng họ. Chiêng được đánh trong các lễ theo mùa rẫy, lễ mừng nhà mới, đám cưới, lễ tiễn người chết và các ngày hội của bon. Mỗi bộ chiêng có cách đánh, bài chiêng riêng, người đánh là nam giới trong bon, đứng thành hàng hay vòng tròn và di chuyển chậm quanh ché rượu hoặc bếp lửa.
Ché rượu ngày trước còn là thước đo của cải, là vật đem trao đổi trong cưới hỏi, đền bù theo luật tục. Rượu cần được ủ từ gạo, bắp hay sắn với men làm từ lá, rễ cây rừng, mở ra trong ngày vui để cả bon cùng uống theo lượt. Ở nhiều gia đình người Mạ hôm nay, ché vẫn được giữ trong góc nhà dù nhà đã xây gạch.
Những ngày vui của bon thường rơi vào mùa khô, sau thu hoạch, khi việc rẫy, việc vườn đã thong thả. Đó cũng là dịp con cháu đi làm xa trở về, nam nữ thanh niên gặp gỡ, người lớn bàn chuyện cưới hỏi. Người ngoài được mời dự là một sự tin cậy; đến thì ngồi lâu một chút, nhận chén rượu đầu, nghe chiêng tới cuối, đừng vội về sau khi chụp được vài tấm ảnh.
Gùi, đồ đan và những nghề tay khác
Bên cạnh dệt vải, người Mạ có nghề đan lát bằng mây, tre, lồ ô do đàn ông đảm nhận nhiều hơn. Chiếc gùi là đồ dùng không thể thiếu: gùi to đeo đi rẫy chở bắp, chở củi, gùi nhỏ đan mịn đeo đi chợ, đi lễ, gùi có nắp để đựng đồ quý. Ngoài gùi còn có nong, nia, giỏ đựng cá, rổ đựng cơm, ống đựng muối, tất cả đều đan từ vật liệu lấy trong rừng ven bon.
Đồ đan của người Mạ bền, nhẹ, hợp với đường dốc và đường rừng, nên dù có bao tải, thùng nhựa, nhiều người vẫn dùng gùi khi đi rẫy. Người đan giỏi nhìn đường nan là biết ai đan, đan cho việc gì. Mây, tre già ngày càng khó kiếm vì rừng thu hẹp, và người trẻ ít có thời gian ngồi đan, nên một chiếc gùi đan kỹ ngày nay là hàng quý.
Nếu bạn muốn mua đồ đan để dùng hoặc làm quà, hãy hỏi người trong bon xem ai còn đan, đặt trước và để người làm tự định thời gian, tự đặt giá. Đồ đan làm vội cho khách thường không bền bằng đồ người ta đan để chính mình dùng.
Câu hỏi thường gặp
Người Mạ và người Cơ Ho có giống nhau không?
Hai dân tộc sống gần nhau ở vùng cao nguyên Lâm Đồng, tiếng nói cùng nhóm Môn – Khmer nên có nhiều từ gần nhau, phong tục cũng có nét tương đồng. Nhưng đây là hai dân tộc riêng trong danh mục các dân tộc Việt Nam, và chính người trong cộng đồng phân biệt rõ mình là Mạ hay Cơ Ho.
Ở Quảng Khê có mua được thổ cẩm của người Mạ không?
Có thể có ở những gia đình còn dệt, nhưng thường không bày bán như cửa hàng. Cách tốt là hỏi qua người quen trong bon hoặc cán bộ văn hoá xã xem nhà nào còn dệt và có nhận làm không. Hàng dệt tay cần thời gian, nên đặt sớm và chấp nhận chờ.
Vì sao tên người Mạ thường có chữ K' đứng trước?
Trong cách ghi tên bằng chữ Việt, nhiều người Mạ nam có chữ K' đứng trước tên, nữ có chữ Ka. Đây là đặc điểm của cách gọi tên trong cộng đồng, cách ghi có thể khác nhau giữa các gia đình. Khi làm giấy tờ, hãy chép đúng như trên căn cước của người đó.
Người Mạ có chữ viết riêng không?
Tiếng Mạ có hệ chữ viết dùng chữ cái La-tinh, được xây dựng để ghi tiếng nói và dùng trong một số tài liệu, lớp học. Tuy vậy trong đời sống hằng ngày, phần lớn người Mạ dùng tiếng Mạ để nói và chữ quốc ngữ tiếng Việt để viết.
Có nên mua chiêng, ché cũ của đồng bào làm đồ trang trí không?
Không nên. Chiêng và ché cổ là tài sản gắn với lễ nghi, với dòng họ và với cả bon; nhiều bộ chiêng đã bị bán đi vì lúc khó khăn, và đó là mất mát lớn của cộng đồng. Người yêu văn hoá Mạ nên ủng hộ việc giữ chúng ở lại bon.
Muốn tìm hiểu sâu văn hoá người Mạ thì đọc ở đâu?
Có các công trình nghiên cứu dân tộc học về người Mạ do các viện nghiên cứu, bảo tàng và nhà nghiên cứu ở Lâm Đồng công bố. Bảo tàng tỉnh và thư viện tỉnh là nơi nên bắt đầu. Ngồi nghe chính người Mạ kể vẫn là nguồn quý nhất, miễn là được họ đồng ý.