Người M'Nông là cư dân bản địa đông nhất của Đắk Nông cũ, và ở xã Quảng Khê họ sống trong những bon có già làng dẫn dắt, giữ nếp mẫu hệ trong đó con cái theo họ mẹ, nhà cửa quây quần quanh bếp lửa, một năm sống theo mùa rẫy. Phần lớn gia đình nay trồng cà phê, hồ tiêu, nhưng tiếng nói, cồng chiêng, luật tục và nhiều tập quán gia đình vẫn còn.
Bài này dành cho người muốn hiểu người M'Nông ở Quảng Khê cụ thể hơn một dòng chữ “cư dân bản địa”: bon được tổ chức thế nào, già làng là ai, mẫu hệ nghĩa là gì trong đời sống hằng ngày, nhà ở thay đổi ra sao, và vì sao người làm việc với bon nên hiểu những điều ấy.
M'Nông là ai: một dân tộc nhiều nhóm
Người M'Nông sống chủ yếu ở vùng cao nguyên giữa Đắk Lắk, Đắk Nông cũ và một phần Bình Phước cũ, tiếng nói thuộc nhóm Môn – Khmer. Trong cộng đồng có nhiều nhóm địa phương với tên gọi riêng, khác nhau đôi chút về tiếng nói, trang phục và tập quán. Người ngoài hiếm khi phân biệt được, và cũng không cần phải tự gán nhóm cho ai; hỏi chính người trong bon là cách đúng.
Với Đắk Nông cũ, người M'Nông là phần cốt lõi của bản sắc vùng. Sử thi Ót N'Drong, những bộ chiêng, ché rượu, những bon dọc theo sông Krông Nô, sông Đồng Nai đều gắn với họ. Ở vùng Đắk Glong cũ, người M'Nông sống xen với người Mạ và với các làng mới của người Kinh, đồng bào phía Bắc.
Cách ghi tên dân tộc trên giấy tờ là M'Nông hoặc Mnông tuỳ văn bản; khi viết về một người cụ thể, hãy dùng đúng cách ghi trên căn cước của họ.
Bon và già làng: một bon vận hành thế nào
Bon là đơn vị cư trú cơ bản của người M'Nông, thường gồm các gia đình có quan hệ họ hàng, thông gia, sống quanh một nguồn nước và có vùng đất rẫy, rừng quen thuộc. Ngày nay bon cũng là một thôn trong cách tổ chức hành chính của xã, có trưởng thôn, nhưng phần “bon” vẫn sống trong cách mọi người đối xử với nhau.
Già làng là người lớn tuổi được cộng đồng tín nhiệm. Không có cuộc bầu như bầu cán bộ; uy tín đến từ hiểu biết luật tục, lễ nghi, đất đai, từ tính công bằng khi phân xử và từ cách người ấy sống. Khi trong bon có chuyện xích mích, chuyện đất, chuyện cưới hỏi trục trặc, người ta tìm đến già làng trước khi tìm đến chính quyền.
Luật tục của người M'Nông là những quy định truyền miệng, nhiều điều được nói thành câu có vần dễ nhớ, quy định về ứng xử, về đất rừng, về lỗi và cách đền bù. Nhiều nội dung luật tục đã được các nhà nghiên cứu sưu tầm, dịch và in thành sách. Trong đời sống hôm nay, luật tục và pháp luật nhà nước cùng tồn tại; những nội dung hợp với pháp luật như hoà giải, giữ rừng, coi trọng người già vẫn được dùng nhiều.
Mẫu hệ trong đời sống hằng ngày
Người M'Nông theo chế độ mẫu hệ: con cái mang họ mẹ, dòng họ tính theo phía mẹ. Điều này không có nghĩa phụ nữ nắm mọi quyền hay đàn ông không có tiếng nói; nó là một cách tổ chức gia đình, thừa kế và quan hệ họ hàng khác với cách tổ chức theo dòng cha quen thuộc của người Kinh.
Trong đời sống, mẫu hệ thể hiện ở chỗ người phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong nhà, của cải như ché, chiêng, đất rẫy gắn với dòng họ phía mẹ, và chuyện cưới hỏi có những bước mà nhà gái chủ động. Tập quán cụ thể như ai hỏi cưới ai, đôi vợ chồng ở bên nào sau cưới, có những thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các nhóm, nên không thể nói một câu cho mọi bon.
Với người làm giấy tờ, mẫu hệ có hệ quả thực tế: họ của con trên giấy khai sinh có thể theo họ mẹ, và đó là việc bình thường, không phải sai sót. Cán bộ, người làm dịch vụ giấy tờ mới đến vùng này nên biết để không tự ý “sửa” cho đúng kiểu họ cha.
Nhà ở của người M'Nông: xưa và nay
Nhà là nơi dễ thấy nhất những thay đổi trong đời sống người M'Nông. Bảng dưới so sánh khái quát, vì mỗi bon, mỗi gia đình một khác:
| Khía cạnh | Ngày trước | Hiện nay |
|---|---|---|
| Kiểu nhà | nhà dài nhiều gian, có nơi làm nhà trệt mái tranh thấp, có nơi làm nhà sàn | phần lớn nhà riêng từng gia đình, nhiều nhà xây gạch, lợp tôn |
| Vật liệu | gỗ, tre, nứa, lồ ô, tranh, mây buộc | gạch, xi măng, tôn, gỗ mua; tre nứa dùng cho bếp, chuồng |
| Bếp lửa | nhiều bếp trong nhà dài, mỗi gia đình nhỏ một bếp | nhiều nhà giữ gian bếp gỗ riêng cạnh nhà xây |
| Không gian của cải | góc để ché rượu, chiêng, gùi, hạt giống | chiêng, ché còn giữ ở một số nhà; kho chứa cà phê, phân bón |
| Kho lúa | kho lúa riêng gần rẫy hoặc bìa bon | ít còn, thay bằng bao chứa trong nhà |
Cái còn lại bền nhất là bếp lửa. Người lớn tuổi vẫn thích ngồi bên bếp, vì đó là nơi ấm, nơi nói chuyện, nơi gác những thứ cần hun khói như măng, ngô giống, thịt.
Một năm theo mùa rẫy
Nếp sống cũ của người M'Nông xoay quanh rẫy: phát rẫy cuối mùa khô, đốt dọn, chờ mưa đầu mùa để tỉa lúa, bắp; chăm rẫy, giữ rẫy suốt mùa mưa; thu hoạch khi mùa mưa sắp dứt; rồi mừng lúa mới, sửa nhà, cưới hỏi trong mùa khô thong thả. Các lễ của bon cũng theo nhịp ấy: lễ trước khi phát rẫy, lễ khi tỉa hạt, lễ mừng lúa mới.
Khi cà phê thay chỗ lúa rẫy, nhịp năm cũng đổi. Mùa bận nhất giờ là mùa hái cà phê vào cuối năm và mùa tưới cà phê trong khô hạn đầu năm. Lễ mừng lúa mới ở nhiều bon thưa dần hoặc được làm gọn trong một ngày, đôi khi lùi vào sau vụ cà phê để con cháu đi làm thuê về đủ.
Hiểu nhịp năm giúp người ngoài làm việc với bon cho hợp: muốn họp, muốn tổ chức lớp học, đừng chọn đúng cao điểm hái cà phê; muốn xem lễ, hỏi trước thời điểm năm nay bon định làm.
Mùa khô thong thả cũng là mùa người M'Nông dựng nhà, sửa nhà, đi thăm họ hàng ở bon xa, làm lễ cưới. Ngày trước, đó là lúc đàn ông vào rừng lấy mây, tre về đan gùi, phụ nữ ngồi dệt vải bên hiên. Ngày nay, mùa khô còn là mùa tưới cà phê, nên nhiều gia đình vừa lo nước tưới vừa lo lễ. Với trẻ em, những tuần cao điểm thu hoạch có khi kéo theo chuyện nghỉ học phụ gia đình; nhà trường và già làng ở nhiều nơi đã cùng nhau vận động để các em không bỏ lỡ việc học. Người ngoài nhìn vào lịch năm của một bon sẽ hiểu vì sao một kế hoạch làm việc tốt ở đây phải bắt đầu bằng câu hỏi: tháng này mọi người đang bận gì?
Làm việc với một bon: những điều nên biết
Nhiều người đến bon với thiện chí: dự án nước sạch, đoàn khám bệnh, doanh nghiệp thu mua, nhóm làm du lịch cộng đồng. Thiện chí cần thêm hiểu biết. Điều đầu tiên là đi qua đúng người: báo ủy ban xã, liên hệ trưởng thôn, và gặp già làng. Bỏ qua già làng thì việc gì cũng chậm.
Điều thứ hai là thời gian. Quyết định trong bon thường được bàn tập thể, có khi qua nhiều buổi bên bếp lửa. Thúc ép trả lời ngay là cách làm mất lòng. Điều thứ ba là lời hứa: đã hứa quay lại, hứa gửi ảnh, hứa trả tiền công, thì làm đúng. Bon làng nhớ rất lâu người hứa rồi không làm.
Điều thứ tư là đất. Bất kỳ việc gì dính tới đất rẫy, đất rừng của người M'Nông đều phải làm minh bạch, đúng thủ tục, có mặt đủ các bên. Nhiều nỗi đau của cộng đồng bản địa Tây Nguyên bắt nguồn từ những lần mua bán đất vội, giấy tay, giá thấp.
Trang phục, đồ dùng và những vật quý trong nhà
Trang phục truyền thống của người M'Nông khá giản dị: đàn ông đóng khố, mặc áo chui đầu, phụ nữ quấn váy dài, áo ngắn, màu chủ đạo là nền chàm đen điểm hoa văn đỏ, trắng, vàng dệt theo dải. Vào ngày lễ, người lớn tuổi mặc đồ dệt tay, đeo vòng đồng, chuỗi hạt; người trẻ có khi mặc áo thổ cẩm may theo kiểu mới. Ngày thường, phần lớn mọi người mặc quần áo như ở bất cứ đâu, nhất là khi đi làm vườn.
Trong nhà, những vật được coi trọng là ché, chiêng, nồi đồng, gùi đẹp và những tấm vải dệt quý. Ché và chiêng không chỉ là đồ dùng mà còn là của cải tích luỹ qua nhiều đời, có lai lịch, có gắn với các dịp lễ và các mối quan hệ họ hàng. Hỏi giá một chiếc ché cổ trong nhà người M'Nông là câu hỏi vụng; hỏi về câu chuyện của nó thì thường được kể rất say sưa.
Gùi đan, ống tre đựng nước, dao phát, rìu, chà gạc là những đồ nghề gắn với rẫy và rừng. Nhiều thứ đã nhường chỗ cho đồ mua ở chợ, nhưng ở những nhà còn ông bà, bạn vẫn dễ thấy chúng treo trên vách bếp.
Thanh niên M'Nông hôm nay: đi học, đi làm và trở về
Thế hệ người M'Nông sinh sau năm 2000 ở Quảng Khê lớn lên với điện thoại, xe máy, trường nội trú và những chuyến đi làm công nhân ở các tỉnh phía nam. Nhiều bạn học lên cao đẳng, đại học, trở thành giáo viên, y sĩ, cán bộ xã, kỹ thuật viên nông nghiệp. Nhiều bạn khác bỏ học sớm để phụ gia đình hái cà phê, rồi đi làm thuê xa.
Điều đáng quý là không ít người trẻ quay về với bon: lập tổ chiêng thanh niên, học dệt lại từ bà, mở vườn cà phê theo cách mới, làm hướng dẫn cho những đoàn khách muốn tìm hiểu văn hoá. Họ là cầu nối giữa người già giữ luật tục và thế giới bên ngoài đang đổi rất nhanh.
Người làm việc với thanh niên M'Nông, từ trường học tới doanh nghiệp, nên nhìn họ như những người trẻ có năng lực và có gốc văn hoá riêng, chứ không phải đối tượng cần được giúp đỡ. Một chỗ thực tập tử tế, một lời giới thiệu đúng lúc có khi đổi được hướng đi của cả một gia đình.
Câu hỏi thường gặp
Người M'Nông có phải luôn ở nhà sàn không?
Không. Tuỳ nhóm và tuỳ vùng, người M'Nông xưa có nơi làm nhà trệt mái tranh thấp sát đất, có nơi làm nhà sàn. Ngày nay phần lớn gia đình ở nhà xây hoặc nhà gỗ thông thường, nhiều nhà giữ một gian bếp gỗ riêng.
Con theo họ mẹ thì giấy khai sinh ghi thế nào?
Họ của con trên giấy khai sinh có thể theo họ mẹ theo tập quán của cộng đồng, và pháp luật về hộ tịch cho phép cha mẹ thoả thuận họ của con. Đây là việc bình thường ở vùng có người M'Nông. Chi tiết thủ tục nên hỏi bộ phận hộ tịch của ủy ban xã.
Già làng có phải là trưởng thôn không?
Không nhất thiết. Trưởng thôn là người được bầu theo quy định của nhà nước để điều hành công việc của thôn. Già làng là người cao tuổi có uy tín theo truyền thống. Có khi một người đảm nhận cả hai, nhưng thường là hai người cùng phối hợp.
Luật tục M'Nông còn được áp dụng không?
Những nội dung phù hợp với pháp luật, như hoà giải mâu thuẫn, bảo vệ rừng, tôn trọng người già, quy tắc ứng xử trong bon, vẫn được dùng nhiều. Những việc thuộc phạm vi pháp luật như hình sự, đất đai có giấy tờ thì do cơ quan nhà nước giải quyết.
Người ngoài muốn ở lại bon vài ngày thì nên làm gì?
Nên có người quen trong bon giới thiệu, báo với trưởng thôn và làm thủ tục lưu trú theo quy định. Ở nhà dân thì sống theo nếp nhà, góp phần ăn, phụ việc nếu được nhờ. Đừng biến chuyến ở lại thành chuyến chụp ảnh mọi ngóc ngách đời tư.
Tiếng M'Nông có khó học không?
Tiếng M'Nông có nhiều âm đầu kép, âm cuối mà tai người nói tiếng Việt chưa quen, nên ban đầu khó nghe. Học vài câu chào, cảm ơn, hỏi thăm thì không khó, và người trong bon thường sẵn lòng sửa cho. Có tài liệu, sách học tiếng M'Nông do địa phương biên soạn.