Quảng Khê nằm trên phần cao nguyên bị chia cắt mạnh của vùng Đắk Nông cũ: không phải một mặt bằng phẳng mà là những dãy đồi lượn sóng nối nhau, sườn dốc thoai thoải xen sườn dốc đứng, giữa các đồi là thung hẹp có suối chảy. Độ cao trong vùng thay đổi khá nhiều từ thung tới đỉnh, nhìn chung cao hơn khu Gia Nghĩa và thấp hơn các vùng núi cao quanh Tà Đùng.
Trang không ghi con số độ cao cụ thể cho xã vì địa hình chênh lệch lớn và chưa có số liệu chính thức đủ chắc cho từng khu. Nếu cần độ cao một mảnh đất, có thể đo bằng thiết bị định vị hoặc tra bản đồ địa hình. Điều đáng hiểu hơn con số là địa hình ấy ảnh hưởng thế nào đến đường đi, nhà cửa, vườn tược và những rủi ro mùa mưa.
Một cao nguyên không phẳng
Chữ “cao nguyên” dễ làm người ta hình dung một vùng đất cao và bằng. Một số cao nguyên ở Tây Nguyên đúng là khá bằng phẳng trên diện rộng. Nhưng vùng Đắk Glong cũ, trong đó có Quảng Khê, nằm ở rìa chuyển tiếp giữa cao nguyên Đắk Nông và khối núi cao phía đông nam, nơi mạng lưới sông suối thượng nguồn sông Đồng Nai đã cắt xẻ bề mặt thành vô số đồi và thung.
Kết quả là địa hình kiểu “bát úp”: những quả đồi tròn lưng, sườn thoải ở phía trên, dốc dần xuống phía chân đồi, rồi gặp thung suối. Ở những nơi suối đào sâu, thung hẹp và sườn rất dốc. Ở những nơi gần trục quốc lộ, đồi thấp và thoải hơn, nên đây là nơi dân cư tập trung đông nhất.
Hiểu hình dạng này giúp giải thích nhiều chuyện quen thuộc: vì sao đường quanh co, lên xuống liên tục; vì sao nhà thường dựng trên lưng đồi hoặc dọc đường; vì sao vườn ở sườn thoải dễ chăm hơn vườn sát thung; vì sao mùa mưa nước đổ dồn xuống thung rất nhanh.
Ba vị trí trên một quả đồi, ba kiểu đời sống
Người làm vườn lâu năm thường phân biệt ba vị trí trên một quả đồi, mỗi chỗ một tính nết.
Lưng đồi và đỉnh đồi. Đất thoát nước tốt, ít úng, nắng nhiều, gió nhiều. Mùa khô dễ thiếu nước vì nước ngầm ở sâu, giếng phải đào hoặc khoan sâu. Đây thường là chỗ dựng nhà vì khô ráo, ít bị nước tràn. Nhưng nhà trên đỉnh trống gió cần mái chắc và cần tính chuyện sét mùa giông.
Sườn đồi. Phần lớn vườn cà phê, hồ tiêu nằm ở đây. Sườn thoải thì dễ làm, sườn dốc thì đất màu dễ bị nước cuốn trôi nếu không có biện pháp giữ đất. Hướng sườn quan trọng: sườn quay về hướng nắng sáng và sườn khuất nắng chiều cho cây trồng phát triển khác nhau, sườn đón gió mùa khô bị hanh nhiều hơn.
Chân đồi và thung. Đất ẩm hơn, thường dày và màu mỡ hơn vì nhận đất màu trôi từ trên xuống. Gần nguồn nước nên tưới dễ. Nhưng thung cũng là nơi nước dồn về khi mưa lớn, có thể ngập úng, và là nơi sương lạnh đọng lâu buổi sáng. Nhà dựng sát suối ở thung có nguy cơ lũ quét.
Đọc một mảnh đất theo vị trí địa hình
Người đi xem đất mua hay thuê để làm vườn có thể dùng bảng dưới như một danh sách để hỏi. Không vị trí nào là tốt hẳn hay xấu hẳn; mỗi chỗ có cái lợi và cái phải tính:
| Vị trí | Lợi | Phải tính | Câu nên hỏi người bán |
|---|---|---|---|
| Đỉnh, lưng đồi | Khô ráo, thoát nước, ít sương muối | Thiếu nước mùa khô, gió, sét | Giếng sâu bao nhiêu, mùa khô có cạn không |
| Sườn thoải | Dễ canh tác, đủ nắng | Xói mòn nếu không giữ đất | Đã có hàng cây chắn, bờ giữ đất chưa |
| Sườn dốc | Thường giá thấp hơn | Khó đi lại, xói mạnh, nguy cơ sạt | Mùa mưa vào vườn bằng lối nào |
| Chân đồi, thung | Đất dày, gần nước | Úng, lũ suối, lạnh sáng sớm | Năm mưa lớn nước có tràn vào không |
Cách tốt nhất để biết một mảnh đất là đến xem nó hai lần: một lần giữa mùa mưa để thấy nước chảy đi đâu, một lần giữa mùa khô để thấy giếng, suối còn bao nhiêu nước. Hỏi thêm vài người hàng xóm, không chỉ hỏi người bán.
Địa hình và con đường
Ở vùng đồi chia cắt, làm một con đường thẳng gần như không thể. Đường phải men theo sườn, vòng qua đầu các thung, cắt qua những chỗ yên ngựa giữa hai đồi. Vì thế đường từ khu trung tâm vào các thôn xa thường dài gấp nhiều lần khoảng cách đường chim bay, và lên dốc xuống dốc liên tục.
Mỗi lần đường đào vào sườn đồi, nó để lại một mái taluy phía trên và một sườn đắp phía dưới. Mùa mưa, nước ngấm vào taluy làm đất nặng và mất ma sát, có thể trượt xuống mặt đường; còn sườn đắp có thể sụt nếu nước xói chân. Đây là lý do các đoạn đường đèo, đường đồi trong vùng hay bị sạt vào giữa và cuối mùa mưa.
Người dân lâu năm thường biết những đoạn hay có chuyện và chủ động tránh đi vào lúc mưa to. Người mới đến nên hỏi họ. Phần đi lại và lái xe trên đường đèo có bài riêng trong mục đi lại của trang.
Địa hình và nhà ở
Đất bằng ở vùng đồi là thứ hiếm, nên nhiều nhà phải san nền, xẻ một phần sườn đồi để có mặt bằng. San nền làm thay đổi đường đi của nước: mặt nền mới chặn nước từ phía trên, mái đất cắt phía sau nhà có thể sạt nếu cao và dốc. Những ngôi nhà bị đất trôi vào sau lưng mùa mưa thường là nhà san nền cắt sâu vào sườn mà không có tường chắn hay rãnh thoát nước.
Một nguyên tắc đơn giản mà người làm nhà ở vùng đồi hay nhắc: luôn hỏi “nước mưa từ phía trên chảy về đâu”. Nếu câu trả lời là chảy vào nhà, vào nền, vào chân móng, thì phải làm rãnh dẫn nước vòng qua trước khi xây. Bài về chọn đất làm nhà trên đồi dốc trong mục này đi sâu hơn vào chuyện ấy.
Hướng nhà trên đồi cũng gắn với địa hình. Nhà quay lưng vào sườn, mặt nhìn xuống thung thường có tầm nhìn đẹp nhưng hứng gió; nhà nép vào chỗ lõm giữa hai đồi kín gió hơn nhưng phải để ý nước dồn. Không có hướng nào đúng cho mọi chỗ; hỏi người đã ở lâu trong khu là cách nhanh nhất để biết gió mùa nào thổi mạnh từ đâu.
Địa hình và nguồn nước
Trên vùng đồi, nước mặt chảy rất nhanh xuống thung rồi theo suối đi xa, không đọng lại lâu. Mùa mưa nước thừa, mùa khô nước thiếu là hệ quả trực tiếp của địa hình. Ao, hồ nhỏ đào ở chân đồi để trữ nước mưa là cách người làm vườn thích nghi; giếng đào và giếng khoan lấy nước ngầm là cách khác.
Độ sâu tới mạch nước ngầm thường lớn hơn ở đỉnh đồi và nhỏ hơn ở thung. Vì thế nhà trên đỉnh đồi phải khoan sâu hơn, tốn kém hơn, còn nhà ở thung thì dễ có nước nhưng phải lo nước bị ô nhiễm do mọi thứ từ trên dồn xuống, kể cả phân bón và thuốc trừ sâu từ các vườn phía trên. Chuyện suối và nước ngầm được viết kỹ hơn trong một bài khác của mục.
Vì thế, người ở thung dùng nước giếng nên để ý giếng đặt ở đâu so với vườn và chuồng trại phía trên, và nên xét nghiệm nước khi có điều kiện. Người ở đỉnh đồi thì nên tính chuyện trữ nước mưa từ mái nhà cho mùa khô.
Đọc địa hình từ bản đồ và ảnh vệ tinh
Không cần là kỹ sư mới đọc được địa hình. Nhiều ứng dụng bản đồ trên điện thoại có chế độ hiển thị địa hình hoặc ảnh vệ tinh. Ở chế độ địa hình, những đường đồng mức xếp sát nhau là chỗ dốc, xếp thưa là chỗ thoải; những đường cong hình chữ V chĩa lên phía cao thường là thung suối. Ở chế độ ảnh vệ tinh, màu xanh sẫm thường là rừng, màu xanh đều theo hàng là vườn cà phê, màu đỏ nâu là đất trống hoặc đường đất.
Kết hợp hai chế độ, người đi xem đất có thể biết trước mảnh đất nằm ở lưng đồi hay chân thung, có suối gần không, có rừng phía trên không, đường vào phải vượt bao nhiêu dốc. Đó là bước chuẩn bị tốt trước khi đến tận nơi.
Tuy vậy, bản đồ trên điện thoại không thay được bản đồ địa chính và quy hoạch chính thức. Ranh giới đất, loại đất, đất có nằm trong quy hoạch rừng hay không phải kiểm ở cơ quan có thẩm quyền. Bản đồ địa hình chỉ giúp hiểu đất nằm thế nào trên mặt đất.
Rừng còn lại nằm ở đâu và vì sao
Nhìn vùng Đắk Glong cũ từ trên cao sẽ thấy một quy luật: rừng còn lại phần nhiều nằm ở những nơi dốc nhất, xa đường nhất, cao nhất, hoặc trong các khu được khoanh bảo vệ. Vườn cà phê, hồ tiêu chiếm những sườn thoải gần đường, gần khu dân cư. Quy luật ấy phản ánh lịch sử khai phá: người ta khai phá chỗ dễ trước, chỗ khó sau, và chỗ khó nhất thì còn lại là rừng.
Rừng trên các sườn dốc và quanh đầu nguồn suối có vai trò giữ đất, giữ nước rất lớn. Khi rừng ở phía trên bị phá, mùa mưa nước chảy tràn nhanh hơn, cuốn đất xuống thung, làm đục suối, có thể gây lũ quét; mùa khô suối cạn sớm hơn. Những vườn nằm ngay dưới một sườn rừng thường được hưởng lợi từ nguồn nước và độ ẩm mà rừng giữ lại, dù ít ai nghĩ tới.
Chuyện các loại rừng, rừng phòng hộ đầu nguồn và sống cạnh rừng có bài riêng trong mục này.
Địa hình cũng thay đổi theo bàn tay con người
Địa hình không đứng yên. Trong vài chục năm qua, con người đã thay đổi bề mặt vùng Quảng Khê nhiều hơn mọi quá trình tự nhiên: san đồi làm nền nhà, làm sân phơi; đào taluy làm đường; đắp đập ngăn suối làm hồ nhỏ; và ở quy mô lớn hơn, các hồ thủy điện trên sông Đồng Nai đã biến những thung sâu thành mặt nước rộng.
Mỗi thay đổi đều có hệ quả về nước và đất. Một sân phơi bê tông rộng trên lưng đồi làm nước mưa chảy tràn nhanh hơn xuống vườn phía dưới. Một con đường mới chặn dòng chảy tự nhiên, nếu không có cống thì nước dồn sang hai bên. Một cái hồ nhỏ đắp không đúng kỹ thuật có thể vỡ khi mưa to. Hiểu điều này giúp mỗi gia đình cân nhắc khi san ủi, đào đắp trên đất của mình, và nói chuyện với hàng xóm khi việc mình làm ảnh hưởng tới dòng nước chảy qua đất của họ.
Câu hỏi thường gặp
Quảng Khê cao bao nhiêu mét so với mực nước biển?
Độ cao trong xã chênh lệch nhiều giữa thung và đỉnh đồi, nên không có một con số chung. Nhìn chung vùng này cao hơn khu Gia Nghĩa và thấp hơn các núi cao quanh Tà Đùng. Muốn biết độ cao một mảnh đất, có thể đo bằng thiết bị định vị hoặc tra bản đồ địa hình.
Đất ở Quảng Khê có bằng phẳng không?
Phần lớn là đồi lượn sóng, sườn dốc xen thung hẹp. Những khu tương đối bằng phẳng nằm dọc trục quốc lộ và trên lưng một số đồi lớn, đó cũng là nơi dân cư tập trung đông nhất.
Mua đất vườn ở sườn dốc có nên không?
Tuỳ mục đích và khả năng đầu tư. Đất dốc thường rẻ hơn nhưng khó đi lại, dễ xói mòn, tốn công làm bờ giữ đất. Nên xem đất cả mùa mưa lẫn mùa khô và hỏi hàng xóm về lịch sử sạt lở, ngập úng.
Vì sao đường vào thôn ở Quảng Khê quanh co như vậy?
Vì địa hình đồi chia cắt: đường phải men theo sườn và vòng qua các thung để giữ độ dốc vừa phải. Khoảng cách theo đường thường dài hơn nhiều so với khoảng cách đường chim bay.
Nhà ở thung lũng có lạnh hơn nhà trên đồi không?
Vào ban đêm và sáng sớm thường có, vì không khí lạnh nặng hơn trôi xuống thung và đọng lại, sương cũng tan muộn hơn. Ban ngày khi có nắng thì chênh lệch không đáng kể.