Những khe suối chảy qua Quảng Khê là các nhánh nhỏ nhất trong mạng lưới thượng nguồn sông Đồng Nai. Nước suối đến từ mưa: một phần chảy tràn trên mặt đất xuống suối ngay khi mưa, phần lớn hơn ngấm vào đất thành nước ngầm rồi rỉ ra từ từ qua các mạch ở chân đồi, nuôi suối và nuôi giếng suốt mùa khô. Đó là lý do suối có đầu nguồn còn rừng thì lâu cạn, suối có đầu nguồn trọc thì cạn sớm.
Bài này không nói về các hồ thủy điện lớn (có mục sông hồ riêng của trang), mà về những dòng nước nhỏ gần nhà: khe suối sau vườn, mạch nước ở chân đồi, giếng đào, giếng khoan. Đó là nguồn nước mà phần lớn hộ gia đình ở Quảng Khê, nhất là ở các thôn xa trung tâm, dựa vào hằng ngày. Hiểu nước đến từ đâu giúp dùng và giữ nó cho bền.
Một giọt mưa đi đâu trên đồi Quảng Khê
Hình dung một giọt mưa rơi xuống lưng đồi giữa mùa mưa. Nếu rơi vào tán rừng, nó đọng lại trên lá, rơi chậm xuống lớp lá mục, ngấm dần vào đất. Nếu rơi vào vườn cà phê có tủ gốc, nó cũng ngấm khá tốt. Nếu rơi vào sân bê tông, mái nhà, đường đất nện chặt, hay đất trống trên sườn dốc, nó chảy tràn ngay, gom với những giọt khác thành dòng, cuốn theo đất và đổ xuống suối trong vài phút.
Phần nước ngấm vào đất đi chậm hơn nhiều. Nó thấm qua tầng đất, có khi xuống tới lớp đá nứt nẻ bên dưới, rồi di chuyển theo độ dốc, sau nhiều ngày, nhiều tuần, có khi nhiều tháng mới rỉ ra ở một mạch nước chân đồi, chảy vào suối hoặc được hút lên từ một cái giếng. Chính phần nước chậm này là thứ nuôi suối và giếng trong mùa khô.
Từ đó rút ra một nguyên lý đơn giản: cái gì làm nước ngấm vào đất nhiều hơn thì giúp suối và giếng bền hơn; cái gì làm nước chảy tràn nhanh hơn thì làm mùa mưa lũ dữ hơn, mùa khô cạn sớm hơn.
Vì sao nhiều con suối cạn sớm hơn trước
Người già ở nhiều thôn trong vùng Đắk Glong cũ kể rằng có những con suối ngày xưa chảy quanh năm, nay tới giữa mùa khô đã chỉ còn những vũng nước. Có nhiều lý do cộng lại. Rừng đầu nguồn bị thu hẹp làm giảm khả năng giữ nước. Diện tích sân, mái, đường bê tông tăng làm nước chảy tràn nhiều hơn. Hàng loạt giếng khoan, máy bơm hút nước ngầm và nước suối để tưới trong mùa khô. Và những năm gần đây có những đợt hạn kéo dài.
Không có số đo dài hạn nào đủ chi tiết cho từng con suối ở Quảng Khê, nên không thể nói chính xác suối nào giảm bao nhiêu. Nhưng xu hướng mà người dân nhận thấy khớp với những gì các nghiên cứu về tài nguyên nước ở Tây Nguyên ghi nhận: mùa khô thiếu nước ngày càng gay gắt ở những vùng tập trung cây công nghiệp cần tưới.
Khi suối cạn, không chỉ người dùng nước suối bị ảnh hưởng. Mực nước ngầm quanh suối cũng hạ, giếng ở thung cũng xuống nước. Cá, tôm, cua trong suối mất chỗ sống, một nguồn thức ăn quen thuộc của nhiều gia đình đồng bào.
Các nguồn nước sinh hoạt thường gặp ở Quảng Khê
Mỗi nguồn nước có ưu điểm và rủi ro riêng. Bảng dưới giúp so sánh để mỗi gia đình biết mình cần để ý điều gì:
| Nguồn | Ưu điểm | Rủi ro thường gặp | Nên làm |
|---|---|---|---|
| Nước suối dẫn ống | Không tốn điện bơm, nước thường mát | Đục mùa mưa, cạn mùa khô, nhiễm bẩn từ phía trên | Lắng lọc, đun sôi; kiểm tra đầu nguồn |
| Giếng đào | Rẻ, dễ làm, dễ nạo vét | Cạn mùa khô, nhiễm bẩn bề mặt | Thành cao, nắp đậy, xa chuồng trại |
| Giếng khoan | Lấy được nước sâu, ổn định hơn | Tốn kém, có nơi nhiễm sắt, mangan | Xét nghiệm nước, lọc nếu cần |
| Nước mưa trữ | Sạch nếu thu đúng cách | Bể bẩn, muỗi, hết nước cuối mùa khô | Bỏ nước đầu mùa, đậy kín, vệ sinh bể |
| Nước máy tập trung | Đã xử lý, ổn định | Chưa phủ khắp, có thể gián đoạn | Hỏi xã về khả năng đấu nối |
Nhiều gia đình kết hợp hai ba nguồn: nước mưa hoặc nước máy để uống, nấu; nước giếng hoặc suối để tắm giặt, tưới. Kết hợp như vậy giúp chủ động hơn khi một nguồn gặp sự cố.
Nước suối dẫn về nhà: tiện nhưng cần cẩn trọng
Ở những thôn xa, gần suối, nhiều hộ dẫn nước bằng ống nhựa từ một điểm trên thượng nguồn về nhà, tận dụng độ dốc nên không cần bơm. Cách này rẻ và tiện, nước thường trong vào mùa khô. Nhưng nước suối là nước mặt, có thể nhiễm vi khuẩn từ phân gia súc, từ hoạt động của người ở phía trên, và nhiễm thuốc bảo vệ thực vật từ các vườn ven suối.
Mùa mưa, nước suối đục ngầu vì đất bị cuốn trôi, ống dẫn dễ bị tắc, đầu thu nước có thể bị lũ cuốn. Mùa khô, lưu lượng yếu, nước chảy ít, đôi khi tranh chấp giữa các hộ cùng dẫn từ một con suối.
Nên đặt đầu thu nước ở chỗ cao nhất có thể, xa khu chăn thả và khu vườn phun thuốc; làm một bể lắng nhỏ trước khi vào nhà; luôn đun sôi trước khi uống. Khi nhiều hộ cùng dùng một con suối, nên thoả thuận trong thôn về vị trí đặt đầu ống và việc giữ sạch khu đầu nguồn.
Mạch nước chân đồi: tài sản chung ít người để ý
Ở nhiều thôn, có những mạch nước nhỏ rỉ ra từ chân đồi quanh năm, nước trong và mát. Trước khi có giếng khoan, đây là nơi cả xóm gánh nước về dùng; ở một số bon làng đồng bào, mạch nước còn gắn với nếp sinh hoạt và lễ nghi của cộng đồng. Ngày nay, nhiều mạch nước như vậy vẫn được dùng, hoặc là nguồn dự phòng khi giếng cạn.
Mạch nước là điểm cuối của một hành trình dài của nước ngầm. Nó sống được khi vùng đất phía trên còn cho nước ngấm: còn rừng, còn cỏ, còn lớp phủ. Khi phía trên bị san ủi, đổ bê tông, phá rừng, hoặc có nhiều giếng khoan hút nước quanh đó, mạch nước có thể yếu dần rồi tắt.
Nhiều người lớn tuổi trong thôn còn nhớ mạch nước nào từng chảy mạnh, mạch nào đã tắt, tắt từ năm nào. Hỏi họ là cách nhanh nhất để thấy nguồn nước của vùng đã đổi ra sao trong vài chục năm.
Giữ mạch nước không tốn kém: rào nhẹ quanh chỗ nước ra để gia súc không giẫm đạp, làm một bể nhỏ để lấy nước sạch, không phát dọn và không phun thuốc ở khoảnh đất ngay phía trên. Đó là những việc cả thôn có thể thoả thuận và làm chung.
Dấu hiệu nguồn nước nhà mình có vấn đề
Nước đổi màu, đổi mùi đột ngột. Nước đang trong bỗng đục, có màu lạ, có mùi hôi hay mùi hoá chất là dấu hiệu có thứ gì đó mới xâm nhập. Nên ngưng dùng để uống, tìm nguyên nhân ở đầu nguồn hoặc quanh giếng.
Nhiều người trong nhà cùng đau bụng. Khi nhiều thành viên cùng bị tiêu chảy, đau bụng mà không rõ do ăn uống, nguồn nước là nghi phạm đầu tiên cần kiểm tra.
Cặn đỏ, cặn đen bám vào xô, chậu. Thường là dấu hiệu sắt, mangan trong nước ngầm. Không nguy hiểm tức thời nhưng làm ố đồ, có vị lạ, nên lọc.
Mực nước giếng xuống nhanh bất thường. Có thể do hạn, do hàng xóm mới khoan giếng sâu gần đó, hoặc do bơm tưới nhiều. Ghi lại mực nước theo tháng giúp nhận ra sớm.
Có vụ cá chết trên suối. Cá chết hàng loạt thường báo hiệu nước bị nhiễm bẩn nặng hoặc thiếu ôxy, có thể do nước thải sơ chế nông sản hay hoá chất. Báo ngay cho trưởng thôn và chính quyền xã, đồng thời ngưng dùng nước suối đoạn đó cho sinh hoạt.
Những thứ làm bẩn nước suối, nước giếng
Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Mưa cuốn phân bón, thuốc từ vườn xuống suối, hoặc ngấm xuống nước ngầm. Pha thuốc, rửa bình phun ngay bên suối, vứt vỏ chai thuốc xuống khe là những thói quen gây hại trực tiếp cho nguồn nước của cả thôn phía dưới.
Chất thải chăn nuôi. Chuồng heo, chuồng bò đặt gần suối hoặc gần giếng, nước rửa chuồng chảy thẳng ra khe, làm nước nhiễm vi khuẩn và có mùi.
Nước thải sơ chế nông sản. Ở vùng cà phê, nước thải từ việc sơ chế ướt, ngâm ủ, rửa cà phê nếu đổ thẳng ra suối có thể làm nước có mùi, đổi màu, cá chết. Cần có hố chứa, xử lý trước khi thải.
Rác sinh hoạt. Ở những nơi chưa có thu gom rác, rác bị đổ xuống khe suối, mùa mưa cuốn đi khắp nơi, tắc cống, làm bẩn nguồn nước của người dưới hạ lưu.
Đất xói mòn. Đất mặt từ vườn trống, đường đất, công trình san ủi trôi xuống làm suối đục, lấp các vũng sâu, làm giảm nơi trú của cá và giảm khả năng chứa nước của lòng suối.
Giữ nguồn nước: việc của mỗi nhà và của cả thôn
Giữ nước bắt đầu từ những việc rất gần: không pha thuốc, rửa bình phun gần suối và giếng; thu gom vỏ chai thuốc vào nơi quy định; đặt chuồng trại xa nguồn nước; có hố xử lý nước thải sơ chế; không đổ rác xuống khe. Mỗi việc nhỏ ở nhà phía trên là nước sạch hơn cho nhà phía dưới.
Giữ nước cũng là giữ cho nước ngấm vào đất: trồng cây che phủ, tủ gốc, làm rãnh và hố giữ nước trên sườn vườn, giữ dải cây ven suối. Dải cây hai bên bờ suối, dù chỉ rộng vài mét, lọc được nhiều đất và phân bón trước khi chúng xuống nước, giữ bờ khỏi sụt, và che bóng cho nước mát.
Ở cấp thôn, những thoả thuận chung như khu đầu nguồn không được phát dọn, không chăn thả trong vùng đầu ống dẫn nước, lịch bơm tưới mùa khô để chia nước công bằng, đều là những cách cộng đồng tự giữ nguồn nước của mình. Nhiều bon làng đồng bào đã có những luật tục về giữ rừng đầu nguồn từ lâu; người đến sau có thể học hỏi từ đó.
Câu hỏi thường gặp
Suối ở Quảng Khê chảy về đâu?
Các khe suối trong vùng là những nhánh nhỏ thuộc hệ thống thượng nguồn sông Đồng Nai, chảy về các nhánh lớn hơn rồi vào dòng chính và các hồ thủy điện trong vùng. Tên từng con suối nên hỏi người địa phương vì nhiều suối chỉ có tên gọi dân gian.
Uống nước suối trực tiếp có an toàn không?
Không nên. Nước suối là nước mặt, có thể nhiễm vi khuẩn từ phân gia súc và hoá chất từ vườn phía trên. Nên lắng lọc và đun sôi trước khi uống, kể cả khi nước trông rất trong.
Vì sao nước giếng có mùi tanh hoặc màu vàng?
Thường do nước ngầm chứa sắt hoặc mangan, khi gặp không khí thì đổi màu và có mùi tanh. Có thể dùng bể lọc với cát, sỏi, than; nên xét nghiệm nước để biết chính xác và chọn cách xử lý phù hợp.
Có cần xin phép khi khoan giếng ở nhà không?
Việc khai thác nước dưới đất có quy định riêng tuỳ quy mô; giếng phục vụ sinh hoạt hộ gia đình quy mô nhỏ thường được miễn hoặc chỉ cần kê khai. Nên hỏi xã về quy định hiện hành trước khi khoan, nhất là giếng lớn để tưới.
Làm sao để suối sau nhà không cạn sớm?
Một hộ đơn lẻ khó thay đổi được cả con suối, nhưng có thể góp phần: giữ dải cây ven suối, không phát rừng đầu nguồn, giữ nước ngấm trong vườn bằng tủ gốc, cây che phủ, và thoả thuận với các hộ khác về việc bơm nước tưới mùa khô.
Nước thải sơ chế cà phê có làm hại suối không?
Có thể, nếu đổ thẳng xuống suối. Nước thải này chứa nhiều chất hữu cơ, làm nước có mùi, giảm ôxy, cá chết. Cần có hố chứa và xử lý trước khi thải, theo hướng dẫn của cơ quan môi trường.