Tết ở xã Quảng Khê có nhiều mâm cỗ khác nhau, vì mỗi cộng đồng mang theo cách đón Tết của quê mình: người Kinh gốc Bắc gói bánh chưng, người gốc miền Trung, miền Nam gói bánh tét; người Mông giã bánh dày trong Tết Mông cuối năm; người Tày, Nùng đồ xôi màu, làm khâu nhục, lạp sườn; người M'Nông, người Mạ có ngày vui của bon với cơm mới, rượu cần, thịt nướng.
Không có một mâm cỗ Tết “chuẩn” cho cả xã. Chính sự khác nhau ấy làm cho những ngày cuối năm ở đây đặc biệt: trong cùng một tháng, bạn có thể ăn bánh dày ở nhà người Mông, bánh chưng ở nhà người Thái Bình, bánh tét ở nhà người Quảng. Bài này đi qua từng mâm cỗ, chuyện nguyên liệu thay đổi trên đất cao nguyên và cách làm khách trong những ngày Tết.
Một xã, nhiều cái Tết
Phần lớn cư dân Quảng Khê ăn Tết Nguyên đán theo âm lịch. Nhưng trước đó, người Mông đã có Tết Mông, thường vào khoảng tháng 11 – 12 âm lịch. Người M'Nông, người Mạ theo nếp xưa có những lễ lớn sau thu hoạch lúa rẫy, ngày nay nhiều bon dời vào khoảng sau vụ cà phê, gần Tết Nguyên đán. Vì vậy cuối năm ở đây là một chuỗi ngày vui nối nhau.
Thời điểm này cũng trùng với cuối vụ hái cà phê. Khi cà phê đã bán, người làm vườn có tiền, có thời gian, con cháu đi làm xa trở về. Mâm cỗ Tết ở nhiều nhà vì thế đầy đặn, là phần thưởng cho một năm làm việc nặng nhọc. Những năm cà phê mất giá, mâm cỗ gọn hơn, nhưng các món cốt lõi vẫn phải có.
Với người mới đến, đây là thời điểm tốt nhất để hiểu sự đa dạng của xã qua bữa ăn. Một lời mời đến nhà ăn Tết ở đây không phải chuyện khách sáo; nhận lời và đến là cách đáp lễ đúng nhất.
Với trẻ em trong xã, cuối năm vì thế có nhiều hơn một cái Tết: được ăn bánh dày nhà bạn Mông, bánh chưng nhà mình, cơm lam ở nhà bạn M'Nông. Những mâm cỗ khác nhau ấy là bài học đầu tiên về một xã nhiều dân tộc.
Chuẩn bị Tết trên cao nguyên: chợ Tết, mổ lợn chung, đêm luộc bánh
Khoảng nửa tháng trước Tết, chợ trung tâm Quảng Khê đông hơn hẳn. Người ta bán lá dong, lá chuối, lạt tre, gạo nếp, đỗ xanh, hoa, bánh mứt, quần áo mới. Người đồng bào mang ra bán gà, lợn nuôi, rau, măng; người Mông mang cải, gà đen, đôi khi cả bánh dày đã giã. Những buổi chợ này là nơi gặp gỡ của cả xã, người đi làm xa về tranh thủ mua sắm, gặp lại bạn cũ.
Ở nhiều thôn, vài gia đình góp nhau mổ một con lợn rồi chia phần, gọi là đụng lợn hay chia thịt, một tục quen thuộc ở nhiều vùng quê. Người Mông, người Tày, người Kinh đều có cách làm tương tự. Thịt chia xong, mỗi nhà mang về gói bánh, làm giò, kho thịt, làm lạp sườn theo kiểu quê mình.
Đêm luộc bánh là đêm vui nhất. Nồi bánh đặt trên bếp củi ngoài sân, lửa cháy suốt nhiều giờ, cả nhà ngồi quanh canh nồi, nướng khoai, nói chuyện. Trời cao nguyên những đêm cuối năm lạnh, bếp lửa nồi bánh vì thế ấm cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nhiều đứa trẻ lớn lên ở Quảng Khê nhớ Tết qua chính những đêm này.
Với người mới đến xã, được rủ sang canh nồi bánh nhà hàng xóm là dấu hiệu bạn đã được coi là người quen. Mang theo ít khoai, ít bánh kẹo, ngồi lại tới khuya, đó là cách đón Tết của người ở đây.
Bánh chưng của người gốc Bắc: lá dong trên đất đỏ
Người Kinh gốc Bắc và nhiều gia đình Tày, Nùng gói bánh chưng vuông ngày Tết. Gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn ba chỉ, hạt tiêu, gói trong lá dong, buộc lạt giang hoặc lạt tre, luộc nhiều giờ. Đêm luộc bánh, cả nhà ngồi canh nồi, là ký ức Tết của nhiều thế hệ.
Lên Tây Nguyên, nguyên liệu thay đổi. Lá dong có nơi phải mua từ xa chở về, có nhà tự trồng một khoảnh dong riềng, dong lá quanh vườn để lấy lá. Có gia đình dùng lá chuối, lá dong rừng thay thế. Hạt tiêu thì không thiếu: nhiều nhà dùng tiêu nhà trồng, giã dập cho vào nhân bánh, thơm hơn ở quê.
Người Tày, Nùng có thêm bánh chưng gù hoặc bánh chưng đen (gạo trộn tro lá), tuỳ quê gốc. Những chiếc bánh này ở Quảng Khê không phổ biến bằng bánh chưng vuông, nhưng vẫn được vài gia đình giữ. Nếu được tặng một chiếc, hãy hỏi về quê gốc của người gói; mỗi kiểu bánh là một mảnh địa lý.
Bánh tét của người gốc Trung, gốc Nam
Người Kinh từ miền Trung và phía Nam lên thường gói bánh tét: bánh hình trụ dài, gạo nếp, đỗ xanh, thịt mỡ, gói lá chuối, buộc chặt, luộc nhiều giờ. Có nhà gói bánh tét nhân chuối cho người ăn chay, bánh tét lá cẩm màu tím. Khi ăn, dùng lạt cắt khoanh, có nhà chiên lại ăn kèm dưa món, củ kiệu.
Ở Tây Nguyên, lá chuối không thiếu, nên bánh tét làm dễ hơn bánh chưng. Nhiều gia đình gốc Bắc sống lâu ở đây cũng gói cả bánh tét, vì bánh tét để được lâu, dễ mang biếu, và hợp với khí hậu. Trong một thôn có cả người Bắc người Trung, mâm cỗ Tết thường có cả hai loại bánh trao đổi qua lại.
Đi kèm bánh tét là dưa món (đu đủ, cà rốt, củ cải phơi khô ngâm nước mắm đường), củ kiệu, thịt kho hột vịt, tuỳ quê gốc. Dưa món và thịt kho ở nhà vườn cao nguyên có khi thêm tiêu nhà, thêm ớt rừng, thành một vị pha trộn khó tìm ở nơi khác.
Bánh dày và mâm Tết Mông
Trong Tết Mông, bánh dày là món không thể thiếu. Xôi nếp đồ chín được đổ vào cối gỗ lớn, hai người đàn ông dùng chày giã liên tục tới khi xôi nhuyễn, dẻo, rồi nặn thành những chiếc bánh tròn dẹt. Bánh dày dùng để cúng tổ tiên, ăn trong những ngày Tết, biếu họ hàng. Bánh có thể ăn ngay, nướng trên than cho phồng, hoặc rán.
Mâm Tết Mông còn có thịt lợn, thịt gà, canh rau cải, thắng cố ở nhiều nơi, rượu ngô. Ngày Tết, gia đình mổ lợn, chia phần cho họ hàng, phần thịt để dành có thể được treo gác bếp hun khói. Ở vùng Đắk Glong cũ, nếp làm bánh có nhà tự trồng trên rẫy, có nhà mua ngoài chợ.
Nếu bạn được mời đến nhà người Mông trong Tết, hãy thử bánh dày nướng và chén canh nóng. Tiếng chày giã bánh dày từ các nhà vọng ra trước Tết là một trong những âm thanh báo hiệu Tết Mông đã đến gần.
Xôi màu, khâu nhục và mâm cỗ Tày, Nùng
Mâm cỗ Tết của người Tày, Nùng thường nhiều món và công phu. Xôi màu nhuộm từ lá cẩm, nghệ, lá gừng là món đầu tiên được nhắc. Khâu nhục, lạp sườn hun khói, thịt lợn quay, gà luộc, canh măng, miến xào là những món quen. Một số gia đình làm bánh khảo, bánh gio, bánh trôi theo quê gốc.
Mâm cỗ thường được bày cúng tổ tiên trước, rồi cả nhà và khách mới ăn. Trong những ngày Tết, các gia đình đi thăm nhau, mỗi nhà mời một chén rượu, một miếng xôi, một miếng thịt. Đây cũng là dịp hát then, hát sli trong những gia đình còn giữ.
Ở Quảng Khê, mâm cỗ Tày, Nùng có khi thêm những thứ của đất mới: rau rừng, măng le, cà đắng học từ người bản địa, bơ, sầu riêng của vườn nhà. Sự pha trộn ấy không làm mất vị quê; nó thêm vào một lớp mới cho câu chuyện gia đình.
Ngày vui của bon: cơm mới, thịt nướng và rượu cần
Người M'Nông, người Mạ không ăn Tết Nguyên đán theo nếp truyền thống; những ngày vui lớn của họ gắn với mùa rẫy, nhất là lễ sau thu hoạch. Ngày nay, nhiều gia đình bản địa cũng đón Tết Nguyên đán như mọi người trong xã, nhất là khi con cháu đi làm xa về đúng dịp ấy. Mâm cơm ngày vui của bon vì thế có thể rơi vào lễ mừng lúa mới hoặc vào Tết.
Món ngày vui của bon thường có cơm từ gạo mới hoặc cơm lam, thịt gà, thịt heo nướng, canh thụt, rau rừng, muối ớt, và rượu cần mở ché mời họ hàng, hàng xóm. Ngày nay mâm cơm còn có bánh kẹo, nước ngọt, bia mua ở chợ, nhất là khi có trẻ em và thanh niên.
Khi được mời đến bon trong những ngày này, hãy mang món quà nhỏ, ăn mỗi món một chút, nhận chén rượu đầu, và ngồi lâu một chút. Phần phong tục và lễ nghi được nói kỹ trong danh mục đồng bào và văn hoá của trang; ở đây chỉ cần nhớ: món ăn trong ngày vui của bon là để chia sẻ.
Làm khách ngày Tết ở Quảng Khê: vài điều nên nhớ
Những ngày Tết, người ở đây đi thăm nhau rất nhiều. Vài điều giúp bạn làm khách cho khéo, dù đến nhà người Kinh, người Mông, người Tày hay vào bon:
- Đến thăm vào ban ngày, tránh giờ ăn nếu chưa được mời ăn; mang quà nhỏ như bánh kẹo, trà, rượu, trái cây.
- Với nhà người Mông, hỏi trước những ngày kiêng khách đầu năm theo tập quán dòng họ.
- Nhận một miếng bánh, một chén rượu hay chén nước khi được mời; không uống được rượu thì nói khéo.
- Không chạm vào bàn thờ, mâm cúng, không chụp ảnh nghi lễ khi chưa hỏi.
- Đi xe máy thăm nhiều nhà trong ngày, tuyệt đối không lái sau khi uống rượu; đường thôn, đường đèo ngày Tết đông và nguy hiểm hơn.
- Mừng tuổi trẻ con theo phong tục của gia đình đó; nhiều nhà người Kinh mừng tuổi, nhà đồng bào có thể không có tục này.
Tết là dịp các cộng đồng mở cửa cho nhau nhiều nhất trong năm. Một lời chúc Tết bằng tiếng của chủ nhà, nếu bạn học được, sẽ là món quà được nhớ lâu hơn mọi gói bánh.
Nếu bạn là người mới chuyển tới và chưa quen ai, đừng ngại. Hàng xóm ở thôn thường chủ động mời người mới sang ăn Tết, nhất là khi biết bạn đón Tết xa nhà. Nhận lời, mang một món góp, hỏi chuyện quê gốc của chủ nhà; một buổi như thế đủ để bạn bắt đầu thấy mình là người của xã.
Câu hỏi thường gặp
Tết Mông thường vào lúc nào?
Tết Mông thường diễn ra trước Tết Nguyên đán, khoảng tháng 11 đến tháng 12 âm lịch, ngày cụ thể khác nhau tuỳ nơi, tuỳ dòng họ. Ở vùng Đắk Glong cũ, nhiều nơi có ngày hội Tết Mông chung. Hỏi người quen trong làng Mông để biết năm nay vào ngày nào.
Ở Quảng Khê người ta gói bánh chưng hay bánh tét?
Cả hai. Người gốc Bắc và nhiều gia đình Tày, Nùng gói bánh chưng vuông; người gốc miền Trung, miền Nam gói bánh tét. Nhiều gia đình sống lâu ở đây gói cả hai. Trong cùng một thôn, mâm cỗ Tết thường có cả hai loại bánh.
Lá dong ở Tây Nguyên có dễ kiếm không?
Không dễ như ở miền Bắc. Có nơi phải mua lá dong chở từ xa về, có gia đình tự trồng một khoảnh dong quanh vườn, có nhà dùng lá chuối, lá dong rừng thay thế. Gần Tết, chợ trung tâm xã thường có người bán lá gói bánh.
Bánh dày của người Mông ăn thế nào?
Bánh dày có thể ăn ngay khi còn mềm, nướng trên than cho phồng thơm, hoặc rán. Người Mông dùng bánh dày để cúng tổ tiên, ăn trong những ngày Tết và biếu họ hàng. Khi được mời, thử một miếng nướng là ngon nhất.
Người M'Nông, người Mạ có ăn Tết Nguyên đán không?
Theo nếp truyền thống, ngày vui lớn của họ gắn với mùa rẫy, nhất là lễ sau thu hoạch. Ngày nay nhiều gia đình cũng đón Tết Nguyên đán như mọi người trong xã, nhất là khi con cháu đi làm xa về đúng dịp này.
Đi thăm Tết nhà đồng bào nên mang quà gì?
Quà nhỏ như bánh kẹo, trà, đường, một chai rượu, trái cây là phù hợp. Không cần quà đắt. Với nhà người Mông, hỏi trước những ngày kiêng khách đầu năm. Khi đến, nhận một miếng bánh, một chén nước để chung vui.